Top 13 # Viết Đoạn Văn Giới Thiệu Về Bài Thơ Nhớ Rừng / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Giới Thiệu Về Nhà Thơ Thế Lữ Và Bài Thơ Nhớ Rừng / 2023

Giới thiệu về nhà thơ Thế Lữ và bài thơ Nhớ rừng

Nhà thơ Thế Lữ sinh năm 1907 mất năm 1989, tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê quán: làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh.

Thuở nhỏ, Thế Lữ học ở Hải Phòng. Năm 1929, học xong bậc Thành chung, ông vào học Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu tham gia Tự lực văn đoàn và là một trong những cây bút chủ lực của báo Phong hoá, Ngày nay. Năm 1937, ông bắt đầu hoạt động sân khấu, làm diễn viên, đạo diễn, lưu diễn tại các tỉnh miền Trung… và có hoài bão xây dựng nền sân khấu dân tộc. Cách mạng tháng Tám, ông hào hứng chào đón cách mạng, và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.

Tác giả đã xuất bản: Máy vần thơ (thơ, 1935); Vàng và máu (truyện, 1934); Bên đường Thiên lôi (truyện, 1936),… Ngoài ra Thế Lữ viết nhiều kịch bản: Cụ Đạo sư ông (kịch, 1946); Đoàn biệt động (1947); Đợi chờ (1949); Tin chiến thắng Nghĩa Lộ (1952); Thế Lữ cũng là dịch giả của nhiều vở kịch của sếch-xpia, Gơ-tơ, Sin-le và Pô-gô-đin,…

Thế Lữ là một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Bài Nhớ rừng đã gắn liền với tên tuổi của ông. Nói đến Thế Lữ không thể không nói đến Nhớ rừng.

Sự xuất hiện của phong trào Thơ mới những năm đầu thế kỉ XX đã tạo ra sự bùng nổ mãnh liệt, một cuộc cách mạng thật sự trong địa hạt văn chương, nhất là thơ. Những thể thơ cũ (tiêu biểu từ thơ Đường luật) với khuôn khổ cứng nhắc, niêm luật gò bó đã không dung chứa nổi, không còn phù hợp với những tư tưởng, cảm xúc dào dạt, mới mẻ, lúc nào cũng chỉ chực tung phá. Đổi mới thể thơ, đổi mới hình thức câu thơ, các nhà thơ mới đồng thời đưa vào đó những dòng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ, tựa như những dòng nham thạnh bỏng đang tuôn chảy tràn trề. Nhớ rừng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho trào lưu mới này.

chúng tôi

Viết Đoạn Văn Giới Thiệu, Bài Luận Miêu Tả Về Thầy Giáo, Cô Giáo Bằng Tiếng Anh. / 2023

Viết đoạn văn giới thiệu, bài luận miêu tả về thầy giáo, cô giáo bằng tiếng Anh.

Viết đoạn văn ngắn về cô giáo bằng tiếng anh

Viết đoạn văn giới thiệu, bài luận miêu tả về thầy giáo, cô giáo bằng tiếng Anh.

My high school has a very special teacher, and his name is Trung. He tells us he is just 50 years old, but his white hair and a face fulls of wrinkles show that he is at least 60. He has medium height, but he is so thin that he almost disappears in any crowd. His only uniform when going to school are white T shirt with black pants and shoes, and we hear he has never changed his style since he first came to this school. He is a Math teacher who does not like to teach Math very much, but his dream is to be a Computer scientist instead. All of his classes is a little bit stressful because he is very strict with the homework and our manner. If we fail to finish our homework, he will make us to have even more works and formulas to remember. However, sometimes he also spends a couple of minutes to share about his life. What we know is that he used to be an excellent student who almost had a chance to study abroad in the US. Unfortunately, something unexpected had happened and missed that chance as well as his lover at that time. Since that moment, he accepted his fate and became a Math teacher for a small high school even though he is a very talented and smart person. We are all sad about his story, and we think he deserves more than what he is doing. Although he does not have a big love in teaching career, he is still one of the best teachers I have ever met. His son is also an excellent person, and we all hope that he will finish his father’s dream.

Viết đoạn văn giới thiệu, bài luận miêu tả về thầy giáo, cô giáo bằng tiếng Anh.

Trường cấp 3 của tôi có một giáo viên rất đặc biệt, và tên của thầy là Trung. Thầy nói rằng thầy chỉ vừa mới 50 tuổi, nhưng mái tóc bạc trắng và gương mặt có đầy vết nhăn cho thấy thầy cũng ít nhất 60. Thầy có chiều cao trung bình, nhưng thầy ốm đến nỗi thầy gần như biến mất trong bất kì đám đông nào. Đồng phục duy nhất của thầy khi đến trường là áo sơ mi trắng với quần tây và giày đen, và chúng tôi nghe rằng thầy không bao giờ thay đổi phong cách kể từ khi thầy đến trường dạy lần đầu tiên. Thầy là giáo viên Toán mà lại không thích dạy Toán cho lắm, nhưng thay vào đó thầy lại muốn làm một nhà khoa học máy tính. Tất cả lớp học của thầy hơi căng thẳng một chút bởi vì thầy rất nghiêm khắc với bài tập về nhà và thái độ của chúng tôi. Nếu chúng tôi không làm bài tập, thầy sẽ bắt chúng tôi phải làm nhiều việc hơn và nhớ nhiều công thức hơn. Tuy nhiên, đôi khi thầy cũng dành vài phút để tâm sự về cuộc đời thầy. Những gì chúng tôi biết là thầy từng là một học sinh xuất sắc và sắp có cơ hội để đi du học ở Mỹ. Xui xẻo thay, vài chuyện ngoài ý muốn đã xảy ra và thầy đã lỡ cơ hội đó và mất luôn người yêu ở thời điểm đó. Kể từ đó, thầy chấp nhận số phận của mình và trở thành giáo viên dạy Toán ở một ngôi trường nhỏ mặc dù thầy là một người tài năng và thông minh. Chúng tôi đều buồn vì chuyện của thầy, nhưng chúng tôi nghĩ thầy xứng đáng nhiều hơn những gì thầy đang làm. Mặc dù thầy không có tình yêu to lớn với sự nghiệp dạy học, thầy vẫn là một trong những giáo viên giỏi nhất tôi từng gặp. Con trai thầy cũng là một học sinh xuất sắc, và chúng tôi hi vọng cậu ấy sẽ hoàn thành được giấc mơ của bố mình.

BÀI LUẬN TIẾNG ANH VIẾT VỀ THẦY CÔ GIÁO.

Giới Thiệu Về Nhà Thơ Trần Tế Xương / 2023

Giới thiệu về nhà thơ Trần Tế Xương – Tác giả của bài thơ Thương vợ sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Trần Tế Xương, qua đó giúp người học có thêm những tư liệu bài học thú vị cho quá trình tìm hiểu bài thơ Thương vợ cho người học.

Tác giả Trần Tế Xươn g có tên lúc nhỏ là Trần Duy Yên, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, ông sinh ngày 10/8/1870 tại làng Vị Xuyên – Mỹ Lộc – Nam Định (nay thuộc phố Hàng Nâu – thành phố Nam Định).

Đến năm 1903 Trần Tế Xương đổi tên thành Trần Cao Xương, ông là con trưởng trong gia đình có chín anh em, cha ông là nhà Nho Trần Duy Nhuận do thi nhiều lần không đỗ nên về làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định. Nhà thơ lấy vợ là bà Phạm Thị Mần, năm bà mới 16 tuổi, sau này bà trở thành nhân vật nổi tiếng nước Nam xinh đẹp, giàu lòng thương chồng thương con và hết mực tảo tần.

Nổi tiếng với trí thông minh, con đường hoạn lộ của Trần Tế Xương bắt đầu từ năm mới 17 tuổi, nhưng thi mãi tám lần cũng chỉ đỗ tú tài. Tuy nhiên cuộc đời của ông khá ngắn ngủi, ông mất đột ngột vào ngày 29/1/1907, cuộc đời ông rơi đúng vào giai đoạn có nhiều biến động và đau thương nhất của lịch sử dân tộc, xã hội Việt Nam. Và những bản chất của xã hội ấy đã đi vào thơ của Tú Xương hầu như nguyên vẹn cả hình hài, bao gồm sự tha hóa của những bộ phận xã hội trước ma lực của đồng tiền và “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” của tầng lớp nho sĩ cuối mùa.

2. Phong cách sáng tác

Những nỗi đau buồn, phẫn uất riêng của nhà thơ đã hòa chung với nỗi đau của dân tộc và nhân dân thời bấy giờ. Cả đời Tú Xương hầu như làm thơ trào phúng về những cái mới quái gở đó, ông dám vạch trần, đả kích thẳng tay và cần thiết vẫn gọi tên, điểm mặt. Bên cạnh thơ trào phúng, Tú Xương còn để lại những bài thơ trữ tình thắm thiết, đó là biểu hiện cho bản chất, cốt cách của nhà thơ, một người giàu lòng yêu thương, luôn thao thức với đời và khi phải tự trách mình cũng hết sức chân thật.

Có người đã tôn vinh Trần Tế Xương là ” nhà thơ thiên tài“, riêng Xuân Diệu cho rằng sự tồn tại của Tú Xương là vĩnh hằng trong văn chương dân tộc.

Giới Thiệu Về Chủ Nghĩa Yêu Nước Trong Văn Học Đời Trần / 2023

– Đây là thời đại dân tộc Đại Việt giành được thắng lợi liên tiếp trong công cuộc chống giặc ngoại xâm (1258, 1285, 1287).

– Cuộc chiến đấu gian khổ nhưng vẻ vang đã tôi luyện ý thức dân tộc truyền thống yêu nước của nhân dân ta.

– Yêu nước là căm thù giặc sâu sắc, quyết chiến đấu với kẻ thù xâm lược: Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn).

– Yêu nước là tự hào dân tộc:

+ Tin tưởng, tự hào về khí thế sức mạnh của quân ta: Tụng giá hòan kinh sư (Trần Quang Khải), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão).

+Tự hào về những chiến công oanh liệt của thời đại: Bạch Đằng gi phú (Trương Hán Siêu), Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải).

+ Niềm tự hào và lòng yêu mến đối với về đẹp của quê hương, đất nước: Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu).

– Khát vọng xây dựng đất nước hòa bình: Tụng giá hoàn kính sư và Phúc Hưng viên của Trần Quang Khải.

– Tình yêu tha thiết đối với quê hương: Quy hứng (Nguyễn Trung Ngạn

– Tủi thẹn khi tự cảm thấy mình chưa. cống hiến hết mình cho triều đại, cho đất nước: Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Cảm hoài (Đặng Dung).

Đóng góp của chủ nghĩa yêu nước trong văn học đời Trần với lịch sử văn học Việt Nam

– Chủ nghĩa yêu nước trong văn học đời Trần là sự tiếp nối tinh thần yêu nước trong văn học đời Lí.

– Tiếp tục mở đường cho truyền thống yêu nước trong văn học Việt Nam

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có lẽ triều đại nhà Trần là triều đại ghi dấu nhiều chiến công chống xâm lược oanh liệt nhất. Và dấu ấn đó cho đến tận bây giờ vẫn còn vẹn nguyên, đậm nét mỗi khi chúng ta lật giở những sáng tác thơ văn đương thời.

Triều đại nhà Trần là triều đại có thời gian trị vì khá lâu trong lịch sử phong kiến. Dưới sự lãnh đạo của các vị vua ưu tú, nhân dân Đại Việt đã quyết tâm chiến đấu và giành được thắng lợi liên tiếp trong công cuộc chống giặc ngoại xâm (năm 1258, năm 1285 và năm 1287). Cuoovj kháng chiến trường kì tuy gian khổ nhưng vẻ vang đã tôi luyện ý thức dân tộc và truyền thống yêu nước của nhân dân ta. Truyền thống ấy đã phả vào hàng loạt các sáng tác thơ văn, làm nên vẻ đẹp rực rỡ cho văn học thời đại Đông A.

Tinh thần yêu nước trong thơ văn đời Trần được biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng. Trong Dự chư tì tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ) của Trần Quốc Tuấn, yêu nước chính là căm thù giặc sâu sắc, là tỉnh thần quyết chiến đấu với kẻ thù xâm lược: Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thua bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai va về sau? Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù.. Lời lẽ bài hịch vừa có lí vừa có tình, vừa thiết tha tình cảm đã tác động đến ý thức của tướng sĩ bấy giờ. Nó kích động mạnh mẽ lòng tự trọng của con người, khơi lên một ngọn lửa căm thù giặc mãnh liệt và ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ giang sơn: Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng. Trong thơ văn đời Trần, yêu nước còn là tự hào dân tộc mà trước hết là niềm tin tưởng, tự hào về khí thế, sức mạnh vô song của quân đội, của thời đại:

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu. :

(Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,

Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu)

(Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)

Sức mạnh phi thường của đội quân hổ báo ấy chính là cội nguồn của những chiến công oanh liệt. Trần Quang Khải đã không giấu nổi niềm vui sướng, tự hào trước thắng lợi dồn dập, hiển hách của bản thân và cũng là của dân tộc, thời đại mình:

Niềm tự hào đó như ngọn đuốc còn rực cháy mãi cho đến thời Hậu Trần, khi Trương Hán Siêu bồi hồi nhớ lại chiến thắng hào hùng năm xưa:

Đây là nơi chiến địa

buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã,

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.

(Bạch Đằng giang phú)

Và cũng ở chính Trương Hán Siêu, lòng tự hào dân tộc còn được khơi dậy bằng niềm yêu mến vẻ đẹp của quê hương, đất nước: .

Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều,

Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều.

Bát ngát sóng kình muôn dặm,

Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Nước trời một sắc phong cảnh ba thu.

Lời ca mở ra trước mắt chúng ta một dải nước non bất tận, mênh mông, khoáng đạt, hùng vĩ. Không có sẵn trong lòng một sự gắn bó với quê hương, đất nước, chắc chắn không thể viết nên những câu ca như thế.

Cùng với lòng căm thù giặc, quyết tâm diệt giặc bảo vệ đất nước, cùng với niềm tự hào dân tộc lớn lao, thơ văn đời Trần còn thể hiện khát vọng xây dựng đất nước hòa bình. Khát vọng ấy vừa là động lực vừa là mục tiêu thôi thúc chiến tướng Trần Quang Khải gắng sức lập công:

Thúi bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san. .

(Vì cảnh thái bình nên gắng sức,

Non nước này vững bền muôn thuở.) .

Cũng chính khát vọng ấy đã ru vỗ, để Thượng tướng nói riêng và muôn dân Đại Việt nói chung được trở về với cuộc sống thanh bình, yên ả, được yên giấc trên tấm phản giữa buổi trưa:

Thử lai yêu hách khiêu trà uyển,

Vũ quá hô đồng lí dược lan

Nam vọng lang yên uô phục khởi,

Đôi nhiên nhất tháp mộng thiên an.

(Phúc Hưng viên)

Nắng lên mời tân khách đến pha trà

Mưa tạnh gọi chú tiểu đồng sửa giàn thuốc.

Trông về phía Nam không có hiệu báo giặc lại đến,

Nghiêng mình trên tấm phần ngủ yên giấc.

Như đã nói, tình yêu nước trong thơ văn đời Trần hết sức phong phú, đa dạng. Bày tỏ tình cảm đó, các thi nhân có bao nhiêu cớ và bao nhiêu cách. Với Nguyễn Trung Ngạn, yêu nước chính là nỗi nhớ quê nhà:

Lão tang diệp lạc tàm phương tận,

Tảo đạo hoa hương giải chính phì.

Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo,

Giang Nam tuy lạc bất như quy.

Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm bông thơm, cua đang lúc béo.

Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt

Đất Giang Nam tuy vui chẳng bằng về nhà.

Xa quê, nhớ quê là tình cảm thường thấy ở mỗi người. Với vị quan đang đi sứ Trung Quốc thì nỗi nhớ gắn liền với những hình ảnh dân dã quen thuộc về quê hương như cây dâu già lá rụng, nong tằm vừa chín, lúa trổ bông sớm thoảng hương thơm, cua đang lúc béo… là nỗi nhớ tha thị

nhất. Còn với Phạm Ngũ Lão và Đặng Dung thì yêu nước còn là nỗi tủi thẹn khi tự cảm thấy mình chưa trọn công danh, chưa làm được việc gì có ích cho đất nước:

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

(Nam nhi mà chưa trả được nợ công danh,

Xấu hổ khi nghe người ta nói chuyện Vũ hầu.)

(Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)

– Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.

(Thù nước chưa trả được mà mái tóc đã bạc sớm,

Bao phen mang gươm báu mài dưới bóng trăng.) ,

(Cảm hoài – Đặng Dung)

Một người chưa thỏa lòng với những gì mình đã làm được cho triều đại, cho giang sơn, một người buồn bã, chán nản cho những ước mơ hoài bão không thể thành hiện thực – đó chính là những bức chân dung tuyệt đẹp về lòng yêu nước trong văn học đời Trần.

Như vậy, có thể thấy, dầu là hịch, thơ hay phú.., các sáng tác văn học đời Trần đều thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc. Tinh thần đó được tiếp nối từ văn học đời Lá và sẽ còn được truyền lửa cho các thế hệ sau, còn được thắp lên trong các trang văn, trang thơ của các thế hệ nối tiếp.