Top 15 # Xem Bài Thơ Tây Tiến / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Soạn Bài Thơ Tây Tiến / 2023

Bài làm Câu 1. Theo văn bản, bài thơ có bốn đoạn. Nêu ý chính của mỗi đoạn và chỉ ra mạch liên kết giữa các đoạn.

Có thể chia bài thơ thành 4 đoạn như sau:

Đoạn 1. Từ đầu đến “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Đoạn thơ nói về nỗi nhớ của nhà thơ về đồng đội của mình khi họ phải đối mặt với những cuộc hành quân làm nhiệm vụ giữa núi rừng Tây Bắc.

Đoạn 2. Tiếp đến “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Là nỗi nhớ của nhà thơ về những vẻ đẹp bí ẩn trong đêm hội đuốc hoa tổ chức trong doanh trại và vẻ đẹp của sông nước Tây Bắc.

Đoạn 3. Tiếp đến “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Là nỗi nhớ của nhà thơ về đồng đội của mình khi họ phải đối mặt với gian khổ, bệnh tật và đặc biệt là với cái chết.

Đoạn 4. Còn lại. Lời tâm nguyện mãi mãi gắn bó với Tây Tiến và với miền Tây của Quang Dũng cũng như của những người lính Tây Tiến.

Câu 2. Nét đặc sắc của bức tranh thiên nhiên được vẽ ra ở đoạn thơ thứ nhất? Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện ra trên nền cảnh thiên nhiên ấy như thế nào?

Bức tranh thiên nhiên ở đoạn thơ thứ nhất nổi bật lên với vẻ đẹp lãng mạn. Đó là vẻ đẹp của núi rừng, của những địa danh nơi đoàn quan hành quân qua: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu. Mặc dù đường hành quân gian nan nguy hiểm: khúc khủyu, thăm thẳm, có thác, có cọp nhưng ở đó đoàn quân vẫn nhìn và cảm nhận nó bằng những hình ảnh đầy lãng mạn, mơ mộng: sương lấp, hoa về, cồn mây, mưa xa khơi…

Trên nền cảnh ấy, đoàn quân Tây Tiến hiện ra với những biểu tượng của người lính: súng và mũ. Sự mệt mỏi khiến họ đi không nổi nhưng họ vẫn hết sức yêu đời, vẫn nhìn cảnh vật bằng cái nhìn tươi đẹp nhất và vẫn ngủ gục trên những cây súng cùng nhau. Họ là những người thanh niên trai tráng, yêu đời, yêu nước; trước cái chết nhưng vẫn vô cùng hiên ngang.

Câu 3. Đoạn thơ thứ hai lại mở ra một thế giới khác với những vẻ đẹp mới của con người và thiên nhiên miền Tây, khác với cảnh vật ở đoạn thơ thứ nhất. Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp ấy?

Ở đoạn hơ thứ hai, phong cảnh lại hiện lên với vẻ đẹp rộn rã, tươi vui của đêm hội đuốc hoa: xiêm áo, khèn, nhạc… Những cô gái dân tộc e ấp trong những điệu nhảy truyền thống và say sưa trong lời ca nốt nhạc.

Những người lính ở đoạn này lại hiện lên với vẻ hết sức hào hoa. Họ vẫn sẵn sàng hòa mình vào với cuộc sống của nhân dân, chung hưởng niềm vui của người bản địa. Vẫn nhớ về châu Mộc với dáng người con gái trên con thuyền lênh đênh dòng nước lũ. Tình quân dân giữa nhưng người lính Tây Tiến và những người dân miền Tây vô cùng gắn bó, đậm đà, son sắt. Họ sống đúng với lứa tuổi của mình, yêu đời, trẻ trung, không hề thấy bóng dáng của cái chết và chiến tranh ở đây.

Câu 4. Phân tích hình ảnh người lính Tây Tiến được tác giả tập trung khắc họa ở đoạn thơ thứ ba. Qua đó, hãy làm rõ vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình ảnh người lính Tây Tiến.

Ở đoạn thơ thứ ba, hình ảnh người lính hiện lên có sự xen lẫn giữa lãng mạn, anh hùng nhưng cũng vô cùng hào hoa.

Vẻ đẹp lãng mạn và anh hùng ở chỗ: vì sốt rét mà rụng hết tóc, vì phải cạo trọc đầu để đánh giáp lá cà thế nhưng họ vẫn coi đó là điểm độc đáo, là đặc trưng không thể lẫn lộn của binh đoàn Tây Tiến. Vì sốt rét và thiếu ăn nên da xanh bủng beo, vì phải dùng lá để ngụy trang kín người nhưng họ lại coi đó là màu của sự oai hùng và niềm kiêu hãnh.

Thế nhưng những người lính ấy vẫn có những lúc hết sức lãng mạn và mơ mộng khi nhớ về bóng hình những cô gái Hà Nội. Những người con gái của quê nhà mà họ vẫn hằng nhớ thương hàng đêm. Vậy ra họ không hề nông nổi, quên nhà mà thực lòng vẫn đau đáu nỗi nhớ về quê hương.

Những câu thơ cuối đoạn này lại làm hình ảnh những người lính một lần nữa hiện lên đầy lãng mạn. Đó là những người khi hy sinh nhưng lại coi việc không có một manh chiếu để chôn cũng nhẹ tựa lông hồng. Với họ chỉ cần chiếc áo người lính đã được coi như một chiếc long bào. Với họ, sự ra đi chỉ là “về đất” là thác gửi về với mẹ hiền. Họ nói về cái chết một cách nhẹ nhàng và hài hước. Họ hiểu những gì mình đang làm, mình phải đánh đổi nhưng họ vẫn nhìn nó bằng cái nhìn hết sức tích cực của những người lính gian khổ.

Câu 5. Ở đoạn thơ thứ tư, nỗi nhớ Tây Tiến được diễn tả như thế nào? Vì sao nhà thơ viết “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”?

Mùa xuân ấy, đoàn quân đã hành quân Tây Tiến, không một lời hẹn ước đến đi đều trong vội vã, đều là những cuộc chạy đua lao mình vào cuộc chiến. Thế nhưng chính những gì đã trải qua, những con đường đã đi qua, những kỷ niệm đẹp bên những bản làng miền Tây đã gắn bó và trở thành một phần linh hồn không thể phai mờ trong họ. Chính những tình cảm và ký ức tốt đẹp ấy đã khiến nhà thơ khi về xuôi mãi luyến lưu và nhớ về Tây Tiến. Đây đồng thời cũng là một lời hẹn ước, một tâm nguyện của nhà thơ, người lính Tây Tiến mãi gắn bó và nhớ thương, trân trọng một giai đoạn cùng Tây Tiến.

Bài Giảng Bài Thơ Tây Tiến / 2023

loading…

– Bút danh: Quang Dũng.

– Sinh năm 1921và mất năm 1988.

– Quê: Phưọng Trì, Đan Phượng, Hà Tây.

– Xuất thân trong một gia đình nho học.

– Là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh soạn nhạc.

b. Tác phẩm:

– Mục đích sáng tác: ghi lại những kỉ niệm một thời của những người lính Tây Tiến.

*Bố cục: chia làm ba đoạn:

– Cảm hứng chính của bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tránggắn bó với nhau để làm nên linh hồn, sắc điệu của bài thơ.

II. Đọc hiểu văn bản a. Nỗi nhớ Tây Tiến:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

– Hai câu thơ mở đầu đã cụ thể cho cảm xúc của toàn bài thơ Sông Mã đại diện cho vùng đất miền Tây. Hai hình tượng song song kết động nỗi nhớ. Đó là miền Tây Bắc Bắc Bộ và người lính Tây Tiến.

b. Hình ảnh người lính Tây Tiến:

*Giữa khung cảnh hùng vĩ, dữ dội.

-Câu thơ 3. 4 gợi tên đất, tên làng. Đó là Sài Khao, Mường Lát:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

– Hành quân chiến đấu đầy gian khổ, thử thách và hi sinh:

“Dốc lên khúc khuỷ, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời …………… mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm……… cọp trêu người Nhớ ôi ! Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

*Người lính Tây Tiến giữa khung cảnh núi rừng thơ mộng:

“Doanh trại… bừng …hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

*Tâm hồn lãng mạn:

Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.

* Sự hy sinh thầm lặng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh …………anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

*Hình ảnh:

– Đó là nét vẻ hào hoa, lãng mạn đầy thơ mộng của những chàng trai Hà Nội.

3. Khẳng định lí tưởng chiến đấu và tinh thần đồng đội.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

– Mặt khác, đoạn thơ kết bài thể hiện lí tưởng chiến đấu “một đi không về” của người lính. Họ ra đi chiến đấu không hẹn ngày về.

III. Tổng kết:

– Xem phần ghi nhớ SGK.

Nhận xét

Cảm Nhận Về Bài Thơ Tây Tiến / 2023

Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến.

Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến – Hình tượng người lính là một trong những cảm hứng quen thuộc của văn học trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Khi đó trong văn chương hình tượng trung tâm chính là người chiến sĩ yêu nước và bài thơ Tây Tiến chính là một trong số đó.

Bài thơ sáng tác vào năm 1948 tại Phù Lưu Chanh khi Quang Dũng đã chuyển đơn vị công tác, không còn tham gia vào đoàn quân Tây Tiến. Mặc dù tham gia vào đoàn quân Tây Tiến không lâu nhưng những kỷ niệm về đồng đội về núi rừng là nỗi nhớ da diết, không thể nào quên. Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh Hà Nội, chất anh hùng của họ mang theo những nét lãng mạn dù họ phải chịu những thiếu thốn, cơ cực. Rừng thiêng nước độc, nhiều khi những người lính chưa phải đối mặt với kẻ thù thì đã phải đối mặt với nhiều thứ ghê gớm không kém đó là đói rét, là căn bệnh sốt rét. Quãng Dũng đã không che giấu đi những sự thật đó mà phơi bày tất cả những thực tại đó để mọi người có thể hiểu được trong những chiến thắng thì cũng không ít những đau thương mất mát.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Chúng ta có thể thấy được mặc dù nhan đề bỏ đi từ “nhớ” nhưng ở ngay đầu bài thơ tác giả cũng đã nêu lên nỗi nhớ: “nhớ chơi vơi”. Một nỗi nhớ không thể hình dung, cân đo đong đếm đươc. Mà cái đầu tiên Quang Dũng nhớ về đó không phải những kỷ niệm gắn với con người mà là rừng núi. Rừng núi nới trước kia tác giả với đồng đội đã cùng nhau trải qua những ngày chung sống, chiến đấu, chịu biết bao gian khổ mà trước đó Quang Dũng, một chàng trai của đất Thăng Long – Hà Nội hào hoa phong nhã, chưa bao giờ nếm trải. Chính vì thế nỗi nhớ về miền Tây càng thêm da diết, những ấn tượng về nó càng thêm sâu sắc:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời.

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Tác giả đã kể ra từng chi tiết, hình ảnh gắn với từng địa danh cụ thể. Qua đó cho thấy ấn tượng sâu sắc đến nỗi tác giả có thể nhớ như in từng địa danh, từng kỷ niệm nơi đoàn quân Tây Tiến đã đi qua. Bên cạnh đó còn cho thấy địa thế hiểm trở, heo hút của miền Tây có dốc núi, cao “ngàn thước”, “heo hút cồn mây”. Không dừng lại ở đó Quang Dũng còn tiếp tục đưa ra những mối đe dọa về sức khỏe cũng như tính mạng của người lính Tây Tiến đó là “oai linh thác gầm thét”, “cọp trêu người”.

Bài thơ còn gáp phần khắc họa nên bức tượng đài vĩ đại về người lính trong nét bi tráng riêng biệt. Những người lính trong đoàn quân Tây Tiến hiện lên với những nét gân guốc, khác lạ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá giữ oai hùm”

Từ những nét khắc họa ấy đã trở thành minh chứng để tố cáo tội ác của chiến tranh, là minh chứng cho hoàn cảnh sống và chiến đấu khắc nghiệt. Tóc người lính không thể nào mọc được thậm chí còn rụng hết đi là do căn bệnh sốt rét hoành hàng, do không thể cung cấp đầy đủ và kịp thời các loại thuốc men cần thiết. Sống trong thiếu thốn về lương thực, bệnh tình nên da dẻ người lính trở nên xanh xao, gầy gò, ốm yếu. Có chiến đấu thì dĩ nhiên sự hy sinh mất mát là không thể tránh khỏi. Quang Dũng đã không che giấu đi cái sự thật nghiệt ngã đó mà trái lại phơi bày ra trước mắt người đọc. Thậm chí tác giả còn nhắc đi nhắc lại và nhấn mạnh rất nhiều lần: “gục lên súng mũ bỏ quên đời”, “thay chiếu anh về đất”, “hồn về Sầm Nứa”… Tấc cả đều cho thấy mặt trái của chiến tranh và những thanh niên đều biết trước kết cụ nghiệt ngã đó nhưng vẫn quyết tâm dứt áo ra đi vì lý tưởng. Họ ra đi “chẳng tiếc đời xanh” bởi khi họ gia nhập vào đoàn quân thì còn rất trẻ, mang theo trong mình những mộng ước, lãng mạn của tuổi trẻ “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Mang theo âm hưởng lúc thì dữ dội, sôi nổi, khi lại trầm lắng, vang vọng, bài thơ đã mang đến cho người đọc nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Bài thơ Tây Tiến mang cả hai đặc trưng đó là cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng được thể hiện thông qua nỗi ngớ về thiên nhiên, con người của miền Tây, qua hình tượng người lính. Những hy sinh mất mát của những người lính để chúng ta có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc và nền độc lập chủ quyền như ngày hôm nay.

Mai Du

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Quang Dũng / 2023

Bài soạn của Thầy Phan Danh Hiếu – chủ biên nhiều sách tham khảo.

I. Tác giả, tác phẩm

Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc… Nhưng thành công nhất vẫn là thơ. Thơ QD là tình yêu bất diệt với “Xứ Đoài mây trắng” quê hương của nhà thơ. Là cảm hứng lãng mạn, hào hoa về cuộc sống kháng chiến và con người kháng chiến. Ông có nhiều vần thơ hay viết về lính trong đó tiêu biểu có bài Tây Tiến.

Tác phẩm

– Đơn vị Tây Tiến được thành lập năm 1947 với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Lào Việt. Thành phần của đơn vị Tây Tiến phần đông là người Hà Nội. Địa bàn và cuộc sống chiến đấu của họ vô cùng gian khổ, thiếu thốn. Đầu năm 1948 đơn vị Tây Tiến giải thể để thành lập trung đoàn 52. Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác.

– Tây Tiến ra đời không bao lâu sau đó tại Phù Lưu Chanh một ngôi làng nhỏ ở Hà Đông. Sau đó bài thơ được in trong tập Mây đầu ô.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khổ 1 ( Sông Mã … nếp xôi) 1.1. Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ gợi nhớ gợi thương Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

HÃY ĐĂNG KÝ KÊNH YOUTUBE CỦA THẦY ĐỂ NHẬN BÀI GIẢNG. BẤM VÀO

Vần “ơi” kết hợp từ láy “chơi vơi” là vần bằng tạo âm hưởng của tiếng gọi đồng vọng miên man không dứt câu thơ sâu lắng bồi hồi ngân dài từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng lan rộng lan xa trong không gian. Nỗi nhớ như có hình dáng của núi non của hồn cây vách đá con sông.

Tác giả gọi tên con Sông Mã đầu tiên trong nỗi nhớ của mình. Vì con sông Mã là người bạn là nhân chứng đã theo suốt bước chân quân hành chứng kiến biết bao buồn vui bao mất mát hi sinh vất vả của người lính TT. Gọi tên TT là gọi tên đồng đội gợi nhớ bạn bè.

Điệp từ “nhớ” được nhắc lại hai lần góp phần tô đậm cảm xúc nhớ nhung dâng trào của tác giả. Chơi vơi là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng không thể bấu víu vào đâu cả. Nhớ chơi vơi có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông bề bộn không đầu không cuối không thứ tự thời gian không gian. Đó là nỗi nhớ da diết miên man bồi hồi làm cho con người có cảm giác đứng ngồi không yên. Và nỗi nhớ ấy tiếng gọi ấy đang đưa nhà thơ về với những kỉ niệm không quên của một thời gian khổ.

1.2. Đó là nỗi nhớ về cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng trữ tình được cảm nhận bằng cảm hứng lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa.

Tác giả gợi nhắc nhiều địa danh xa lạ: Sài Khao Mường lát Pha Luông Mường Hịch Mai Châu… gợi bao cảm xúc mới lạ tác giả như đưa người đọc lạc vào những địa hạt heo hút hoang dại để từ đó dõi theo bước chân quân hành của người lính.

6 câu thơ tiếp theo ” Sài chúng tôi khơi” diễn tả thật đắc địa sự hùng vĩ của núi rừng miền Tây. 6 câu thơ này là bằng chứng đặc sắc của “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa):

Cụ thể: Con đường hành quân thật gian nan vất vả nguy hiểm với dốc cao vực thẳm: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi

+ Trên đỉnh Sài Khao sương dày đến độ lấp cả đoàn quân. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp mệt mỏi rã rời. Tuy vậy họ vẫn thấy con đường hành quân thật đẹp và thơ mộng: đi trong sương trong hoa đêm hơi.

+ Đường đi toàn dốc cao được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình “khúc khuỷu” (quanh co khó đi) “thăm thẳm” (diễn tả độ cao độ sâu) (xa cách cuộc sống con người). Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau (bảy chữ mà đã có tới 5 vhwx là thanh trắc) khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh vậy.

+ Đỉnh núi mù sương cao vút. Núi cao tận mây mây nổi thành cồn mũi súng chạm trời. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: ” súng ngửi trời” giàu chất thơ mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới “Khó khăn nào cũng vượt qua – Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội người lính TT không bị mờ đi mà nổi lên đầy thách thức.

+ Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống xuống thấp lại lên cao đèo nối đèo dốc tiếp dốc không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao

+ Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp gợi tả sự êm dịu tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường những mái nhà dân hiền lành và yêu thương nơi mà các anh sẽ đến đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.

+ Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu không quên nhiệm vụ của người lính. Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát hy sinh nhưng không chút bi luỵ thảm thương.

+ Ta trở lại đoạn thơ trên gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc nơi đại ngàn hoang vu:

” Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

“Chiều chiều…” rồi “đêm đêm” nhưng âm thanh ấy “thác gầm thét” “cọp trêu người” luôn khẳng định cái bí mật cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước người nối người băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn

1.3. Hai câu cuối đoạn thơ cảm xúc bồi hồi tha thiết. Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình. Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm vừa bâng khuâng vừa tự hào:

” Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

“Nhớ ôi!” tình cảm dạt dào đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến “đoàn binh không mọc tóc“. Câu thơ đậm đà tình quân dân. Hương vị bản mường với ” cơm lên khói” với ” mùa em thơm nếp xôi” có bao giờ quên? Hai tiếng ” mùa em ” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ điệu thơ trở nên uyển chuyển mềm mại tình thơ trở nên ấm áp.

” Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”.

Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.Nửa thế hệ đã trôi qua bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng ngày một thêm sáng giá.