Top 7 # Xem Truyện Cổ Tích Dân Gian Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Truyện Cổ Tích Trong Văn Học Dân Gian

Trước cách mạng Tháng Tám, ở nước ta, tên gọi cổ tích, hay truyện cổ, hay truyện đời xưa được sử dụng để gọi chung cho các thể loại truyện kể dân gian, bao gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn và truyện cười. Về sau, khi công tác nghiên cứu văn học dân gian phát triển, truyện cổ được phân chia thành các thể loại truyện kể dân gian. Tuy nhiên, do bản chất nguyên hợp của văn học dân gian mà việc phân loại đã gặp nhiều khó khăn, ngày nay vẫn chưa thể đi đến thống nhất.

Trong khối truyện kể dân gian người Việt, cổ tích chiếm dung lượng trội hơn nhiều so với các thể loại khác. Một phần vì đặc trưng lịch sử, một phần vì đặc trưng xã hội và tính cách dân tộc mà cổ tích được lưu giữ hiệu quả hơn trong kho tàng truyện cổ người Việt.

Có thể hiểu cổ tích là “một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt”1.

Mặc dù xuất phát từ thần thoại và thời kì thần thoại, song cổ tích không vì thế mà không thể thoát khỏi cái bóng lớn của thần thoại. Nếu “nhân vật thần thoại thường có ý nghĩa tượng trưng và thể hiện những nỗi gian khổ chung, những niềm hoan lạc chung, những lo âu chung và những ước mơ chung của thị tộc, bộ lạc” thì “truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công xã thị tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ”; nếu thần thoại có sự gắn kết gần gũi với tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tinh thần tự do, ý thức dân chủ của con người khi xã hội chưa phân chia giai cấp thì cổ tích lại phản ánh tình trạng đấu tranh xã hội và thể hiện ý thức hệ của thời đại; nếu thần thoại xây dựng vẻ đẹp kì vĩ, hùng tráng, mĩ lệ, mang tầm vóc của toàn thể bộ lạc thì cổ tích lại hướng về những số phận, những ước mơ cải mệnh của con người trong cái hạn hữu chật hẹp của xã hội.

Trong tính nguyên hợp của văn học dân gian, sự gặp gỡ, hàm chứa nhau giữa các thể loại là hiện tượng không xa lạ. Trong đó, hiện tượng chuyển hóa chất liệu từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, thể loại này sang thể loại khác tạo nên một dòng chảy thú vị. Chẳng hạn trường hợp hình tượng con rùa, nó xuất phát từ thần thoại trong vai thần biển, đã tái sinh trong thời đại truyền thuyết qua “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy” và tiếp tục đời sống của mình trong cổ tích “Rùa và Thỏ”.

Vấn đề phân loại truyện cổ tích đến nay vẫn tồn tại như một thách thức. Có lẽ, đặc trưng nguyên hợp là trở lực vĩnh cửu trước mọi nỗ lực phân định văn học dân gian ở bất cứ cấp độ nào. Tuy nhiên, để quán xuyến được việc nghiên cứu, các học giả, theo cách nào đó, phải đưa ra kiến giải về việc phân loại cổ tích.

Nguyễn Văn Ngọc trong Truyện cổ nước Nam chia cổ tích thành 5 loại: những truyện thuộc về lối cổ tích hoặc dã sử; những truyện mà kết cục trở thành phương ngôn; những truyện thuần về văn chương; những truyện ẩn một triết lí cao xa và những truyện vui chơi cười đùa lí thú nhưng chưa phải tiếu lâm. Cách phân chia này đưa ra những tên gọi dài dòng, đồng thời có sự chồng lấn giữa các loại một cách phức tạp.

Theo Nghiêm Toản, cổ tích được chia làm 4 loại: truyện mê tín hoang đường; truyện luân lí ngụ ngôn; truyện phúng thế hài đàm và sự tích các thánh. Cách phân chia này đã sử dụng nội hàm của thuật ngữ truyện cổ. Các loại được phân chia thành tương ứng với các thể loại truyện kể dân gian, song chưa đầy đủ. Ngay cả thể loại cổ tích cũng không tìm thấy vị trí cụ thể trong cách phân chia trên.

Theo Hoàng Trọng Miên, cổ tích được chia làm 6 loại: cổ tích lịch sử; cổ tích phong tục; cổ tích tình cảm; cổ tích thế sự; cổ tích tôn giáo và cổ tích hoang đường. Thanh Lãng thì chia cổ tích thành 7 loại: cổ tích ma quỷ; cổ tích anh hùng dân tộc; cổ tích ái tình; cổ tích luân lí; truyện thần tiên; truyện phong tục và truyện khôi hài. Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam chia cổ tích thành 3 loại: truyện cổ tích thần kì; truyện cổ tích thế sự và truyện cổ tích lịch sử.

Giáo trình Văn học dân gian của các trường Đại học Sư phạm chia cổ tích thành 3 loại: cổ tích hoang đường; cổ tích sinh hoạt và cổ tích lịch sử. Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên trong giáo trình Văn học dân gian của trường Đại học Tổng hợp chia cổ tích thành 2 loại: cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử. Nhóm tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ chia cổ tích thành 3 loại: cổ tích loài vật; cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt.

Theo giáo trình Văn học dân gian của Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, căn cứ vào việc có hay không có yếu tố thần kì, có thể chia thành cổ tích thần kì và cổ tích hiện thực; căn cứ vào nội dung phản ánh, có thể chia thành cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử.

Như vậy, vấn đề phân loại cổ tích hẳn là vô cùng phức tạp. Dù phân chia theo quan điểm nào thì bên cạnh những kiến giải hợp lí cũng tồn tại kèm theo những bất cập. Điều này xuất phát từ nhiều lí do. Trong đó, tính nguyên hợp của văn học dân gian là trở ngại tất yếu, không thể khắc phục. Với các cách phân loại đã trình bày, chúng tôi tán thành hơn cả quan niệm của Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên. Đây là cách phân loại đơn giản, mặc dù không chi tiết, song đảm bảo được tính hệ thống trong phân loại. Hai bộ phận cổ tích thế sự và lịch sử có thể được minh định sáng rõ nhất. Hẳn nhiên, sự minh định ấy không bao giờ là sự tách biệt hoàn toàn.

Về vấn đề xác lập thể loại truyền thuyết và tiểu loại cổ tích lịch sử, đến nay vẫn chưa nhận được ý kiến thống nhất từ các nhà nghiên cứu. Có ý kiến không thừa nhận truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian. Theo đó, những truyện kể dân gian có nội dung gắn với lịch sử được xếp vào tiểu loại cổ tích lịch sử. Tuy nhiên, trong tính hệ thống của các thể loại và truyện kể dân gian, cổ tích mang không khí sinh hoạt đời thường trong không gian hẹp hơn so với truyền thuyết. Truyền thuyết là một thu hẹp của thần thoại về không gian và thời gian. Song, với đặc thù biểu đạt, truyền thuyết gắn với không gian đất nước và thời gian lịch sử. Nó mang tầm vóc của cộng đồng, thay vì cổ tích mang giới hạn của những mối quan hệ cụ thể giữa một số ít người. Nhân vật truyền thuyết là nhân vật của cộng đồng, trong khi nhân vật cổ tích là đại diện cho tâm tình của một bộ phận người trong xã hội. Phân tích như vậy để thấy rằng những truyện kể có nội dung gắn kết với sự kiện hay nhân vật lịch sử, nó mang không khí truyền thuyết hơn là cổ tích. Vì vậy, chúng tôi tán thành ý kiến xem truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian.

Cổ tích các dân tộc anh em thể hiện khá phong phú, sinh động phong tục, tập quán sinh hoạt văn hóa dân gian. Truyện “Quả Pa Pao” của người HMông, “Tung còn lấy vợ tiên” của người Tày kể về tục ném còn. Kề về các nhạc cụ dân gian có truyện “Sự tích chiếc kèn môi” của người HMông, “Sự tích chiếc kèn đá” của người Raglai. Truyện kể về sự tích các điệu múa thì có “Sự tích điệu múa công” của dân tộc Thái, “Sự tích điệu múa bắt ba ba” của người Dao.

Bộ phận cổ tích gắn liền với việc lí giải các sự vật trong thiên nhiên như “Sự tích dưa hấu”, “Sự tích trái sầu riêng”, “Sự tích cây huyết dụ”, “Sự tích hồ Ba Bể”, “Sự tích núi Vọng Phu”, “Sự tích núi Bà đội om”, “Sự tích núi Ngũ Hành”, “Sự tích sông Tô Lịch và sông Thiên Phù”…

Phần lớn cổ tích xoay quanh đề tài sinh hoạt gia đình, phản ánh và lí giải những xung đột, mâu thuẫn có tính riêng tư nhưng phổ biến giữa anh em trai: “Cây khế”, chị em gái: “Sọ Dừa”, giữa dì ghẻ con chồng và chị em cùng cha khác mẹ: “Tấm Cám”…

Những xung đột bên ngoài gia đình cũng chịu sự ảnh hưởng, chi phối từ những mâu thuẫn trong gia đình. Giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong gia đình là động lực giải quyết xung đột, mâu thuẫn xã hội.

Suốt quá trình phát triển qua lịch sử lâu dài, những hình tượng nhân vật trong cổ tích không ngừng được nhào nắn lại, bổ sung thêm, đây là yếu tố giúp làm tăng tính khái quát và điển hình hóa cho hình tượng, phản ánh được nhiều vấn đề lịch sử của đời sống xã hội.

Triết lí sống là phần quan trọng trong kết cấu nội dung của thể loại. Vì ở đó phản ảnh chân thực sự đấu tranh không khoan nhượng của nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, chống lại những thế lực xâm phạm quyền sống, quyền làm người của họ, đồng thời, khẳng định ý nghĩa, giá trị cao quý trong cuộc sống của họ thành triết lí.

Trước sự nghiệt ngã trong xã hội có giai cấp, người dân lao động đấu tranh chống lại những thế lực xâm phạm nhân quyền của họ; đồng thời tự khẳng định bằng cách nâng lối sống của mình lên thành một triết lí.

Trong cổ tích, phần cốt lõi nhất trong triết lí sống của nhân dân là tinh thần lạc quan, yêu đời, lòng ham sống, tình yêu thương và quý trọng đồng loại. Có thể truyện hướng đến sự ca ngợi, biểu dương những hành vi cao đẹp như tình nghĩa thầy trò trong “Sự tích đầm mực”; hay phê phán, lên án những hành vi trái quy chuẩn đạo đức xã hội, như lừa thầy, phản bạn, ăn ở hai lòng, hay những đứa con bất hiếu như “Cái cân thủy ngân”, “Đứa con trời đánh”…

Nói đến tinh thần lạc quan trong cổ tích người ta thường đề cập đến kết thúc của thể loại này, phần nhiều kết thúc có hậu. Kết thúc có hậu chỉ là một biểu hiện phổ biến nhất, không phải biểu hiện cao nhất cũng như duy nhất của tinh thần lạc quan, yếu tố chủ đạo được đề cập trong thể loại này.

Thực tế cho thấy, kho tàng cổ tích Việt Nam nói riêng, của nhân loại nói chung không phải tất cả đều có kết thúc có hậu. Và cũng không vì thế mà cho rằng những truyện kết thúc không có hậu là bi quan. Không ít cổ tích có kết thúc bi thảm, nhân vật chính diện hoặc phải chết hoặc ra đi về miền khổ ải đọa đày, nhưng đó là cái chết nhằm giúp tỏa sáng, khơi dậy tinh thần lạc quan, niềm tin đối với những phẩm chất tốt đẹp của những con người hiền lành, lương thiện, khẳng định những giá trị đạo đức cao quý giữa dòng tuần lưu vô tận của dòng chảy lịch sử nhân loại.

Triết lí sống của nhân dân trong cổ tích còn thể hiện ở sự thưởng công phạt tội được nhìn nhận và giải quyết theo yêu cầu đạo đức. Chàng Thạch Sanh có những hành vi đạo đức cao đẹp mà chắc chắn còn rất lâu mới có thể trở thành hiện thực một cách phổ biến trong xã hội loài người nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng – đó là sự hào hiệp, vô tư, sẵn sàng xả thân vì việc nghĩa trong mọi tình huống. Từ quan niệm đó, nhân dân ta khẳng định triết lí “ở hiền – gặp lành”. Niềm tin ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ vừa là triết lí sống lạc quan, tích cực, vừa là ước mơ công lí và đạo đức. Tuy hình thức bề ngoài nó khá giống với giáo lí của nhà Phật nhưng nội dung phục vụ cho ý nguyện của nhân dân. Đó là chỗ dựa tinh thần vững chắc trong hoàn cảnh nghiệt ngã của nhân dân lao động.

Trong gia đình, mặc dù chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi nhưng họ luôn sống có đạo đức. Đạo đức bộc lộ ở sự hiền hậu, thật thà, ngay thẳng, hiếu thảo, thủy chung, chịu thương chịu khó… Họ không hay và không thích trả thù những kẻ đàn anh, những người bề trên trong gia đình, dù những kẻ đó đã gây cho họ nhiều tổn thương, đắng cay, điêu đứng.

Nhân vật người em trong “Cây khế” mặc dù bị người bị người anh chiếm hết gia tài nhưng khi được chim thần đưa ra đảo lấy vàng và trở nên giàu có thì vẫn giữ nguyên tình anh em như trước. Hơn nữa, đã chỉ chỗ đảo vàng cho anh để anh cũng có đời sống sung túc. Còn Thạch Sanh dù bị Lí Thông lừa đảo năm lần bảy lượt một cách trắng trợn, bội nghĩa bạn bè nhưng khi có quyền binh trong tay vẫn sẵn sàng tha cho Lí Thông một con đường sống. Những điều nói trên nhằm bảo vệ quan hệ tình cảm, đạo đức huyết thống của gia đình thị tộc trong cổ tích.

Nạn nhân của những xung đột trong gia đình phụ quyền đang hình thành đáng lẽ phải đứng lên phá vỡ tôn ti trật tự bất công để xây dựng một kiểu gia đình khác, giải phóng mình khỏi những nỗi oan trái. Nhưng quy chuẩn xã hội đương thời không cho họ quyền được làm điều đó, nên họ chỉ có thể phủ nhận, chống lại những quan hệ áp bức, bóc lột của gia đình phụ quyền bằng cách quay về với những quan hệ tốt đẹp của gia đình thị tộc đã và đang trên bờ vực tan rã. Sự lí tưởng hóa những nhân vật đàn em là để củng cố những quan hệ gia đình lung lay, rạn nứt, nhằm cứu vãn nó, làm cho nó trở lại với thời kì “tổ ấm” xa xưa.

Nhưng mọi thứ không diễn ra một cách tốt đẹp như thế. Xã hội đương thời đầy rẫy bất công đã nhẫn tâm đưa họ vào những cạm bẫy, tai ương. Những người đàn em và những người bề dưới luôn chịu thiệt thòi, cay đắng mặc cho phẩm hạnh sáng ngời của họ là vì sự độc ác, vô đạo của những kẻ đàn anh, bề trên. Cổ tích phản ánh nỗi cùng quẫn của những kiểu nhân vật “đức hạnh nhưng bất hạnh” này trong việc tìm đường giải thoát cho mình. Nhưng ở một số truyện, sự sáng tạo của tác giả dân gian đã mang đến cho tác phẩm những làn gió mới, thể hiện ở phần kết thúc các nhân vật đàn em đã dám vượt qua khuôn khổ gia đình, tìm đến sự công bằng, hạnh phúc cho bản thân mình. Trí tưởng tượng của tác giả đã đưa con người khổ hạnh, bị áp bức bất công vượt biên giới gia đình, nhờ việc tạo ra, khai thác những hình tượng hư cấu, các yếu tố kì ảo như: Ông Tiên, Bà Bụt, Chim thần, Rắn thần, Vua, Công chúa, Hoàng tử… Tuy vai trò khác nhau nhưng những nhân vật ấy gắn liền với việc thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân. Đây là chiếc cầu nối giữa cuộc đời thực bất hạnh với cuộc đời hạnh phúc công bằng mộng tưởng của nhân vật chính diện. Nếu như các lực lượng thần – ảo góp phần thể hiện lí tưởng xã hội – thẩm mĩ, các nhân vật như vua chúa, hoàng tử, công chúa là phương tiện nghệ thuật, vừa là hiện thực vừa lí tưởng xã hội được hình tượng hóa. Các nhân vật đế vương trong cổ tích được phân thành hai loại đối lập: chính diện và phản diện, tức tốt và xấu. Vua tốt như ông vua trong truyện “Thạch Sanh”, “Tấm Cám”; còn vua xấu như ông vua trong truyện “Ai mua hành tôi”, vua xấu như ông vua Trang vương trong “Phạm Tải Ngọc Hoa”.

Loại truyện về những chàng trai khỏe, dũng cảm hay truyện dũng sĩ của các dân tộc nhằm ca ngợi những tấm gương tài hoa, hiệp nghĩa, những bậc anh hùng trong lao động và chiến đấu. Truyện “Cẩu Khây” của người Tày kể về bốn anh em kết nghĩa có sức khỏe phi thường, dùng sức khóe của mình tham gia lao động sản xuất, giúp đỡ đồng bào. Truyện “Chàng Voi con” của người Thái cũng có cốt truyện tương tự. Hay truyện “Chê Hấu” của người HMông kể về các chàng trai khỏe mạnh hợp sức khai phá đất đai, chế ngự thiên tai, lao động sản xuất. Mở đầu là chàng Nhổ Cây, đến chàng Cắt Tranh, tiếp theo là chàng Chê Hấu trồng trọt, sau đó là chàng Hút Nước chống lũ, cuối cùng là chàng Đục Đá làm cối xay để chế biến lương thực. Truyện “Cẩu Khây” chủ yếu ca ngợi kì tích làm thủy lợi, chế ngự thiên tai. Truyện “Chàng Voi con” ca ngợi kì tích săn bắn. Truyện “Chê Hấu” xây dựng một tập thể những người lao động có trình độ kĩ thuật cao, có sự phân công lao động hợp lí, hiệu quả. Đây là những con người tài ba trong xã hội nông thôn.

Bên cạnh đó người Việt còn có những truyện mang tính hiện thực hơn như truyện “Lê Như Hổ” có tài ăn khỏe, một buổi phát luôn ba mẫu cỏ, một ngày gặt xong hai mẫu lúa. Truyện “Yết Kiêu” ca ngợi tài lặn nhiều giờ trong nước để đánh bắt cá, lặn xuống biển đục thuyền giặc. Lại có những truyện đề cao sự khéo léo trong lao động như: “Ba chàng thiện nghệ”, “Người thợ mộc Nam Hoa”, “Bùi Cầm Hổ”… Đặc biệt như truyện “Phân xử tài tình” ca ngợi vị quan thông minh tài giỏi. Nhưng cốt truyện loại này khá hiếm trong thể loại cổ tích, vì đa số quan lại là đối tượng châm biếm, đả kích của cổ tích …

Nhân dân tin rằng, nếu những con người tài đức làm mẫu nhi thiên hạ, những người khỏe mạnh cường tráng đóng góp công sức lao động sản xuất thì cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn nhiều, nhân dân sẽ được sống đời bình yên, hạnh phúc.

2/ Đặc trưng nghệ thuật

Nhân vật hay vật thần kì là hiện thân của các thế lực mang sức mạnh thần diệu, phi phàm, đứng ra giúp đỡ nhân vật tuyến thiện hay cùng với nhân vật tuyến ác tạo ra sự hủy diệt cuộc sống. Nhân vật kì diệu thường gặp: Tiên, Bụt (Phật); vật kì diệu: Rùa thần, Chim thần, Cá Bống… hiện ra giúp đỡ người tốt thiệt thòi. Trái lại, Đại Bàng có thể bắt cắp bất kì cô gái đẹp nào, Trăn tinh có thể ăn thịt bất cứ ai… Đôi khi nhân vật hay vật thần kì là phép thử lòng người, phân định bản chất con người thiện ác như Đại Bàng hai lần xuất hiện trong cổ tích “Cây khế” đã tạo ra hai kết cục trái ngược nhau cho hai nhân vật thuộc hai tuyến thiện ác khác nhau, với hai anh em cùng một huyết thống nhưng tính cách thiện ác đối lập.

Nhân vật trong cổ tích trung gian và cổ tích hiện thực không phân tuyến hoặc phân tuyến không rõ. Nhân vật đôi vợ chồng trong truyện “Sự tích đá vọng phu” không phải là nhân vật phân tuyến. Nhân vật người vợ trong “Sự tích con muỗi” là nhân vật phân tuyến không rõ ràng giữa mối quan hệ với chồng và với tình nhân. Những truyện cổ tích lí giải về sự tích không hẳn là cổ tích thần kì, mà là dạng cổ tích trung gian, gần với cổ tích hiện thực. Nhân vật trong “Trương Chi”, “Gái ngoan dạy chồng”… không phải nhân vật lí tưởng hóa, không phân tuyến như nhân vật trong cổ tích thần kì. Nhân vật trong cổ tích thần kì thường không rõ tính cách. Nhân vật thuộc cùng một tuyến có tính cách hao hao giống nhau theo khuôn mẫu đã định.

Kết cấu cổ tích thường gặp là kết cấu đường thẳng. Cốt truyện tuân theo một trật tự nhất định từ trước đến sau, cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau. Cuộc đời Thạch Sanh trong cổ tích cùng tên đi theo một trình tự thời gian cụ thể, từ lúc đi đốn củi, qua thăng trầm, cưới công chúa, thuần phục chư hầu, được truyền ngôi báu… là một dạng của kết cấu này.

Loại kết cấu này có ưu điểm: dễ nhớ, đơn giản; nhược điểm: thiếu sinh động. Cổ tích với đặc trưng thể loại không thực hiện sự đảo ngược kết cấu, đôi khi làm giảm hiệu quả diễn đạt, gây nhàm chán.

Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ trong cổ tích cũng tương thích với đặc trưng và chức năng thể loại. Ngôn ngữ mang tính trần thuật, tính kể đặc trưng cho ngôn ngữ kể chuyện. Các câu tả và các đoạn đối thoại ít có mặt trong truyện. Hình thức tả chủ yếu mang tính phác họa những nét đặc trưng nhất của ngoại hình nhân vật. Ta chỉ biết chàng Thạch Sanh khỏe mạnh, thật thà, còn cụ thể chàng khỏe đến mức nào và thật thà ra sao cổ tích không đề cập. Đó cũng có thể là “độ không sáng tạo” dành cho độc giả, theo điểm nhìn hiện đại.

Về phương diện cú pháp, cổ tích thường có ba loại chủ yếu: câu tồn tại, câu luận, câu hoạt động. Câu tồn tại nhằm mục đích giới thiệu nhân vật: “Hồi ấy ở gần làng có anh học trò nghèo, bố mẹ chết sớm” (Lấy vợ cóc). Câu luận nhằm định tính, định danh nhân vật: “Chàng rất hay chữ, tuy chưa đỗ đạt gì, người ta cũng gọi chàng là Tú Uyên” (Tú Uyên). Phổ biến nhất vẫn là câu hoạt động.

Trong cổ tích, có môtip mở đầu và kết thúc. Mở đầu thường có câu: “Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, tại một làng nọ…” hoặc “Ngày xưa, có một nàng công chúa xinh đẹp, nàng sống cùng vua cha trong cung điện tráng lệ nhưng nàng luôn cảm thấy không vui”. Câu mở đầu thường có sự xuất hiện của cả không gian và thời gian theo thủ pháp ước lệ.

Ngôn ngữ cổ tích không có chức phận xác định cụ thể không gian – thời gian, mọi thứ đều hiện lên mơ hồ: thời gian quá khứ xa xưa, không gian xa xôi đâu đó. Ngoài ra, cổ tích còn sử dụng ngôn ngữ của tục ngữ, ca dao… nhằm gây ấn tượng. Cổ tích chứa đựng các câu văn đa dạng, phong phú về kiểu câu, phong cách ngôn ngữ. Càng về sau câu văn cổ tích càng gần với phong cách văn học hơn.

Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích cũng được xây dựng theo hệ quy chiếu thể loại, góp phần xác định diện mạo chung của thể loại. Không gian cổ tích là không gian đời thường, không gian sinh hoạt bao quanh cuộc đời nhân vật chính. Chính vì vậy, không gian còn mang tính chất khép kín, tức không quan tâm những nhân vật phụ, những diễn biến khác trong cuộc sống. Không gian cổ tích khó xác định giới hạn, nơi chốn, đặc điểm. Ta sẽ bắt gặp những không gian quen thuộc trong cổ tích, bởi vì các truyện thường được xây dựng trong một không gian hao hao nhau. Dường như cổ tích chỉ gọi tên địa danh bằng danh từ phiếm chỉ để không gian bớt mơ hồ, còn thực sự địa danh ấy đặc điểm ra sao thì cổ tích không quan tâm đến.

Thời gian cổ tích là thời gian vĩnh hằng, bất biến. Thời gian cổ tích kéo dài theo số phận của đời người. Khi nhân vật chính được giải phóng số phận, thời gian theo đó dừng lại. Tính chất ước lệ được thể hiện rõ trong thời gian cổ tích; chẳng hạn ta thường bắt gặp các thời điểm như: “một hôm”, “một ngày kia”, “ngày xửa ngày xưa”… Ngoài ra, ta có gặp thời gian ước định bằng tuần trăng, “Ba tuần trăng… Rồi sáu… rồi chín tuần trăng” (Sự tích hòn vọng phu). Thời gian trong cổ tích chỉ được gợi ra một cách mơ hồ, hầu như không xác định năm nào, đời vua nào…

Như vậy, không gian – thời gian trong cổ tích có tính ước lệ, áng chừng. Hai yếu tố này luôn đi cùng nhau, vì thời gian chỉ diễn tiến trong không gian nhân vật hoạt động. Trong cổ tích, mọi thứ thường mơ hồ xa xôi, nhưng đôi lúc rất quen thuộc như trong chính ngôi làng của mình là vì thế.

Đặc trưng nghệ thuật của cổ tích còn có sự đóng góp của các thủ pháp nghệ thuật. Trước hết, nghệ thuật phiếm chỉ, cũng tương tự kết cấu đường thẳng, nhằm phục vụ nhu cầu truyền miệng, cổ tích thường gạt bỏ những yếu tố khó nhớ. Do vậy, nhân vật, không gian, thời gian thường có tính phiếm chỉ. Trong cổ tích ít sử dụng danh từ riêng. Điều này khác với truyền thuyết, thường sử dụng danh từ riêng. Nhân dân không có nhu cầu đặt tên, gọi rõ nhân vật, chỉ muốn tạo dựng hình tượng những nhân vật có tính phổ quát cao, nhằm biểu đạt những ý nguyện của mình, mong ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn, công bằng hơn. Một cụm từ thường được sử dụng trong cổ tích là: “ngày xửa ngày xưa”; một số danh từ phiếm chỉ thường gặp trong cổ tích như: một phú ông, một quý cô, một anh tiều phu nọ… Việc chỉ sử dụng danh từ phiếm chỉ như vậy có tác dụng tạo ra một mảnh đời, một số phận có tính khái quát cao.

Nghệ thuật tưởng tượng, hư cấu là một phần quan trọng nhằm giúp con người có thêm trợ lực để hoàn thành được mơ ước của mình. Dĩ nhiên kết quả cuối cùng như thế nào vẫn do bản chất, sự lương thiện hay lòng tham của con người quyết định. Anh canh điền chiến thắng phú ông, lấy được vợ nhờ sự giúp đỡ của Bụt, nhưng muốn có cây tre trăm đốt làm sính lễ, anh đã phải bỏ công sức trèo đèo lội suối, vất vả gian truân không ít. Hơn thế, dù cho hư cấu thế nào, các yếu tố thần kì vẫn phải tuân theo luân lí thông thường. Trong “Cây khế”, phượng hoàng đưa người ra đảo lấy vàng, giúp người trở nên giàu có sung túc, nhưng không phải muốn lấy bao nhiêu của cải cũng được. Thánh thần chỉ giúp đỡ những ai chăm chỉ lao động, nhưng gặp khó khăn. Yếu tố thần kì chỉ là phương tiện nhiệm mầu trong cổ tích, hiện thân của những mong ước quá sức của con người. Yếu tố thần kì giúp nhân vật cổ tích đạt được mong ước tốt đẹp, hợp luân lí; còn ta trong đời thực phải lao động không ngừng mới mong nhận được điều tốt đẹp.

Cổ tích là mơ ước của nhân dân lao động về xã hội tốt đẹp, công bằng, về đời người ấm no, hạnh phúc. Cổ tích cũng là những bài học về lòng thiện, tình yêu thương và đức tính chăm chỉ, cùng tài năng, dũng khí của con người. Đó là những ước mơ gần gũi, là động lực hiện thực mà con người có thể vươn tới.

Sự Khác Nhau Giữa Hai Khái Niệm Truyện Cổ Dân Gian Và Truyện Cổ Tích

2. Từ trong các cụm từ truyện dân gian, truyện cổ dân gian, truyện cổ tích với từtrong những danh từ được dùng để chỉ một số thể loại của văn chương viết như: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài v.v.. có chung nguồn gốc. Từ điển Hán – Việt của Thiều Chửu cho biết: trong tiếng Hán, chữ có ba cách đọc và ý nghĩa khác nhau như sau: 1) đọc truyền có nghĩa đem của người này mà trao cho kẻ kia như truyền vị – truyền ngôi, truyền đạo. Truyền còn có nghĩa sai người bảo như truyền kiến – truyền cho vào yết kiến; 2) đọc truyện vừa có nghĩa dạy bảo như Xuân thu Tả thị truyện – họ Tả giải nghĩa kinh Xuân thu để dạy bảo người, vừa có nghĩa là truyện kí như Liệt nữ truyện – truyện các gái hiền; 3) đọc truyến có nghĩa nhà trạm, nhà để đưa kẻ đi, đón kẻ lại cũng gọi là truyến [4, tr.30]. Từ truyện trong tiếng Pháp là conte, tiếng Anh là tale, story.

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, truyện là danh từ có hai nét nghĩa: 1) tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật và diễn biến của sự kiện thông qua lời kể chuyện cuả nhà văn; 2) (thường dùng đi đôi với kinh), sách giải thích kinh nghĩa do các nhà triết học của Trung Quốc thời cổ viết [8, tr.1018]. Từ điển tiếng Việt của Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm cũng cho rằng từ truyện có 2 nét nghĩa và giải thích: 1) việc có lớp lang, sự tích hoặc tưởng tượng được kể lại: truyện cổ tích; 2) sách về Nho giáo: Tứ truyện [9, tr.1414]. Từ điển Việt – Hán của Lâm Hoà Chiếm, Lý Thị Xuân Các và Xuân Huy viết truyện là tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật và diễn biến của sự kiện, sự việc [3, tr.973].

Trong Từ điển văn học, Nguyễn Xuân viết: Truyện thuộc loại tự sự – có hai phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật. Thủ pháp nghệ thuật chính là kể. Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng. Tuỳ theo nội dung phản ánh, dung lượng, chủ thể sáng tác cụ thể mà truyện được chia thành nhiều loại: truyện dân gian, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài (cũng gọi là tiểu thuyết), truyện nôm, truyện nôm khuyết danh [7, tr.450].

Như vậy, cách giải thích ý nghĩa từ truyện của các cuốn từ điển là tương đối thống nhất. Nếu có điểm khác nhau thì hoàn toàn không phải là nhằm loại trừ nhau mà đó là sự bổ sung lẫn nhau để giải thích một cách đầy đủ ý nghĩa của từ truyện. Cần thấy rằng, khi truyện trở thành một thuật ngữ văn học thì nó được sử dụng với ý nghĩa khá phong phú, đa dạng và phức tạp. Riêng lĩnh vực văn chương viết, theo Lại Nguyên Ân, truyện là tác phẩm tự sự. Hàm nghĩa của thuật ngữ này khác nhau trong văn học trung đại và hiện đại.

Ở văn học trung đại Việt , ” truyện“ là một thuật ngữ mà văn học mượn từ sử học (” truyện“ là thể loại trước thuật của sử gia, chép tiểu sử, hành trạng, công tích của các nhân vật lịch sử). Tác phẩm thể truyện có thể được viết bằng thơ (ví dụ truyện thơ nôm) hoặc văn xuôi (ví dụ loại truyện truyền kì, truyện chương hồi viết bằng chữ Hán).

Ở văn học hiện đại, ” truyện“ là khái niệm không thật xác định. Một mặt nó vẫn được dùng để chỉ mọi loại tác phẩm tự sự có cốt truyện nói chung (bao gồm cả truyện kí, tiểu thuyết), mặt khác lại có lối dùng nó như thuật ngữ chỉ dung lượng tác phẩm tự sự (” truyện dài“, ” truyện vừa“, ” truyện ngắn“).

Khái niệm ” truyện“ thường lẫn lộn phức tạp với khái niệm ” tiểu thuyết“. Trong thực chất thể loại, có tác phẩm ” truyện“ là tiểu thuyết và ngược lại. Tuy vậy, ở văn học hiện đại, các nguyên lí của tiểu thuyết chi phối hầu hết các thể loại nên sự phân biệt bản chất thể loại ở tác phẩm cụ thể là không dễ. Có thể nói phạm vi ” truyện“ rộng hơn phạm vi ” tiểu thuyết“. Ở truyện còn giữ lại nhiều hình thức thể loại khác nhau, đặc biệt là giữ lại những nét thuộc sử thi ” tiền tiểu thuyết“. Ví dụ loại truyện mang tính tiểu sử về nhân vật có thực, dù được ” tiểu thuyết hoá“ ở mức nhất định; vì nó thiên hẳn về việc kể lại một cuộc đời theo các mốc niên biểu. Loại truyện kể lại các sự kiện (chiến đấu, sản xuất…) cũng vậy. Sự phát triển và thể hiện hàm nghĩa nghệ thuật của tác phẩm không thực hiện ở vận động cốt truyện. ở truyện, bản thân việc mở rộng cái thế giới mà nhân vật đi vào, theo dòng chảy của một cuộc đời, hoặc sự thay đổi các ấn tượng về những cảnh và người mà nhân vật xúc tiếp – đã là mục đích của trần thuật, của sự thể hiện nghệ thuật. ở truyện, ” chất giọng“ của tác giả (hoặc nhân vật kể chuyện) có vai trò lớn [1, tr.349 -350].

Ở nước ta, từ xưa, trong dân gian chưa có các từ và cụm từ: truyện, truyện cổ dân gian và truyện cổ tích. Người bình dân không quen nói truyện mà thường nói chuyện (chuyện Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh, Lý Thông, chuyện Nàng út v.v.); không quen nói truyện cổ tích mà thường nói chuyện đời xưa; không nói truyện cổ dân gian mà chỉ nói chuyện đời xưa. Khi bàn về sự xuất hiện hai thuật ngữ ca dao và dân ca, Nguyễn Xuân Kính cho rằng: Hiện nay, đối với giới nghiên cứu, ca dao và dân ca là những thuật ngữ quen thuộc. Trước kia, trong dân gian, những từ đó chưa có. Để chỉ các hoạt động văn nghệ dân gian, người bình dân sử dụng những từ khác. Đó là các động từ ca, hò, ví, hát, lí, ngâm, kể. Căn cứ vào những tài liệu hiện có, chúng ta biết rằng từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện các công trình sưu tầm, biên soạn ca dao của nhà Nho, hai tên gọi phong dao, ca dao cũng chính thức ra đời. So với thuật ngữ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn. Phải đến những năm 50 của thế kỉ XX, thuật ngữ này mới chính thức được sử dụng với sự xuất hiện của cuốn sách Tục ngữ và dân ca Việt Nam(Vũ Ngọc Phan) [6, tr.72 – 78]. Quá trình xuất hiện các thuật ngữ truyện, truyện cổ dân gian, truyện cổ tích giống với quá trình xuất hiện hai thuật ngữ ca dao và dân ca.

Một trong những đặc điểm lớn nhất trong trước tác của nhà Nho thời phong kiến là hiện tượng văn sử bất phân. Trong sách vở của họ, tính chất sử học và tính chất văn học nhiều khi không được phân biệt một cách rạch ròi. Cho dù vậy, khi phân loại trước tác của nhà Nho, một tác phẩm cụ thể bao giờ cũng thuộc về một loại nhất định. Giả sử, ở một khía cạnh nào đó, các cuốn sách: Báo cực truyện, Việt điện u linh, Lĩnh chích quái có tính chất lịch sử, nhưng không vì thế mà xếp chúng vào phạm vi công trình lịch sử. Các cuốn sách ấy thuộc và chỉ thuộc về lĩnh vực sách văn học. Tương tự như vậy, cho dù Đại Việt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tính chất văn học biểu hiện khá rõ, nhưng chưa thấy ai gọi đây là hai tác phẩm văn học hay hai công trình nghiên cứu văn học bao giờ! Từ trước đến nay, người ta chỉ xếp chúng vào lĩnh vực công trình lịch sử. Từ đó, ta có thể nói rằng, từ truyện với tính chất là một thuật ngữ văn học đã được sử dụng trong sách vở của nhà Nho khoảng từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII mà Báo cực truyện – một cuốn sách thuộc lĩnh vực văn học là minh chứng cụ thể. Và từ truyện trong sách vở của nhà Nho tương đương với chữ chuyện trong dân gian.

3. Tiếp sau quá trình từ truyện trở thành một thuật ngữ văn học là sự ra đời thuật ngữ truyện cổ dân gian. Quá trình ra đời của thuật ngữ này gồm hai bước: bước thứ nhất là sự xuất hiện các danh từ truyện cổ tích và truyện cổ. Theo Chu Xuân Diên, một cuốn sách chữ Nôm in tại Hà Nội năm 1871 có tên là Ngọc Hoa cổ tích truyện. Như vậy, danh từ truyện cổ tích được dùng ở Việt có lẽ muộn nhất cũng là từ thế kỉ XIX [5, tr.231]. Ngoài ra, các danh từ truyện cổ, truyện cổ tích còn được nhận diện tương đối rõ nét khi các công trình sưu tầm chuyện đời xưa, chủ yếu là của tầng lớp trí thức Tây học và các học giả phương Tây xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX như Chuyện giải buồn (1885) của Huỳnh Tịnh Của, Chuyện đời xưa (1886) củaTrương Vĩnh Ký; Contes et legendes annamites (1886) của Landes, Bàn về truyện cổ An Nam ta (1921) của Đỗ Hào Đình; Truyện cổ tích, I (1928) của Lưu Văn Thuận; Đông Tây ngụ ngôn (1927), Truyện cổ nước Nam (1932 -1934) của Nguyễn Văn Ngọc; Chuyện đời xưa (1930) của Phạm Văn Thỉnhv.v; bước thứ hai, trên cơ sở mở rộng ý nghĩa của khái niệm truyện cổ tích hay làm rõ nghĩa hơn nữa khái niệm truyện cổ, thuật ngữ truyện cổ dân gian ra đời. Bước thứ hai của quá trình ra đời thuật ngữ truyện cổ dân gian nếu được hoàn thiện, có sớm, thì cũng phải từ những năm 50 của thế kỉ XX trở về sau, khi khái niệm văn học dân gian xuất hiện. Và khái niệm truyện cổ dân gian trong sách vở của giới nghiên cứu văn học dân gian tương đương với cụm từ chuyện đời xưa trong dân gian, tương đương với các danh từ conte populaire (tiếng Pháp), folktale (tiếng Anh).

Trong các công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian ở nước ta, nhiều khi các khái niệm truyện cổ, truyện dân gian, truyện cổ dân gian và truyện cổ tích được hiểu và sử dụng hoàn toàn như nhau. Thực ra, bốn khái niệm này không hoàn toàn giống nhau.

Theo nghĩa thông thường, truyện cổ là nói tắt của cách nói đầy đủ truyện cổ dân gian. Truyện cổ dân gian là một khái niệm có ý nghĩa khái quát, nó bao gồm hết thảy các loại truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các thời đại [2, tr.39]. Truyện dân gian và truyện cổ dân gian giống nhau nhưng không đồng nhất, giữa chúng vẫn có nét khác nhau và chính nét khác nhau ấy đã xác định ý nghĩa rộng, hẹp của hai khái niệm. Nếu nói một cách đầy đủ thì khái niệm truyện dân gian là truyện kể dân gian, nó bao quát tất cả truyện dân gian của đời xưa và mới sáng tác ở đời nay, trong khi đó, khái niệm truyện cổ dân gian chỉ bao quát ở giới hạn những truyện dân gian đã được sáng tác từ đời xưa.

4. Như vậy, chỗ khác nhau giữa hai khái niệm truyện cổ tích và truyện cổ dân gian đã rõ. Truyện cổ dân gian là khái niệm được dùng để chỉ một bộ phận của văn học dân gian, bộ phận này gồm nhiều thể loại, trong đó có thể loại truyện cổ tích. Truyện cổ tích là khái niệm được dùng với hai ý nghĩa chủ yếu: 1) (cũng) để chỉ một bộ phận của văn học dân gian, trong trường hợp này, khái niệm truyện cổ tích tương đương với khái niệm truyện cổ dân gian; 2) để chỉ truyện cổ tích – một thể loại của bộ phận truyện cổ dân gian trong văn học dân gian. Để tránh lẫn lộn như đã từng xảy ra, ta chỉ nên sử dụng khái niệm truyện cổ tích trong trường hợp để chỉ riêng thể loại truyện cổ tích mà thôi.

Tài liệu tham khảo

1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

2. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

3. Lâm Hoà Chiêm – Lý Thị Xuân Các – Xuân Huy (1997), Từ điển Việt – Hán, Nxb. Trẻ TP. Hồ Chí Minh.

4. Thiều Chửu (2005), Hán – Việt từ điển, Nxb. Văn hoá – Thông tin, Hà Nội.

5. Chu Xuân Diên (2001), Văn hoá dân gian, mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

6. Nguyễn Xuân Kính (2004), Thi pháp ca dao, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

7. Nhiều tác giả (1984), Từ điển văn học, tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

8.Hoàng Phê chủ biên (1994), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học – Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

9. Minh Tân – Thanh Nghi – Xuân Lãm (1999), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Thanh Hoá.

Nguồn: chúng tôi 12/12/2006

Phân Tích Truyện Cười Dân Gian Mua Cua.

Phân tích truyện cười dân gian Mua cua.

Như một màn hài kịch ngắn, truyện “Mua cua” có bốn vai hề, nhưng buồn cười nhất là vị quan huyện.

Chuyện vợ chồng anh chàng nhà quê là một tình tiết bi hài. “Đi cho biết đó biết đây… “, anh nhà quê cũng phải ra chơi thiềng thị một chuyến. Nghe người ta nói đến con cua, con hoành hành, con công tử vô tràng, con hai càng tám ngoe, cái tên lạ hoắc, nhưng người ta nói thịt nó ngon. Lên giọng phong lưu trưởng giả, về nhà anh ta sai vợ xuống chợ Dinh “mua cho được một con cua, để mà ăn thử cho biết nó ngon thế nào”… Vợ đem tiền xuống chợ, thấy con sam cũng có ngoe, có càng, ngỡ là cua, bèn mua một con đem về cho chồng. Dân nhà quê thì lạ chi con cua nữa? Anh chồng quê mùa cục mịch học đòi làm sang, còn mụ vợ thì đần, đến con cua cũng không biết. “Khổ nhất vợ dại trong nhà… Vô duyên vớ được chồng đần”, đó là bi kịch. Hai vợ chồng anh nhà quê “đánh lộn, la lảng” về chuyện con cua, con sam, đó là chuyện bi hài.

Chú xã xuất hiện. Chú xã ở đây là bọn “lí toét” ở chốn hượng ẩm. Chú xã thấy con sam có đuôi, “nói là con cá đuối, xử hai đàng phải thất”, nghĩa là cả hai vợ chồng anh nhà quê đều sai, đều thua kiện. Cái đáng cười ở đây là lí sự của chú xã, của bọn hào lí làng quê ngày xưa.

Màn hài kịch lại có thêm vai hề mới. Công đường, chốn nha môn trở thành sân khấu hề. Quan huyện xuất hiện và “dạy” đem cua cho người xem, rồi “phê thị ” vào giấy để “cho làng cùng hai vợ chồng biết ai quấy, ai phải”

Hình như quan huyện là “một nhà thơ”, nên quan đã “phê thị” bằng thơ. Bốn câu đầu, quan đã chỉ ra: cua, rùa, cá đuối đều là sai cả, sai hết: “Cả ba đường giai quấy cả ba”.

Quan lớn là “cha mẹ “, là bậc “phụ mẫu chí tôn “, là “đèn giời soi xét”.Quan rất tự hào về vị thế, về trách nhiệm của mình:

“Hễ con dại thì có mẹ cha

Dân dại cậy cùng quan trưởng”.

Chúng ta từng biết quan trưởng là một nhà thơ, nhưng khi nghe quan xướng đọc lời phê thì ta lại biết thêm “ngài” còn là một vị quan rất hay chữ. Quan nói bằng chữ Hán. Nào là “phê minh chỉ thượng”, nào là “giao phi”. “Phê minh ” nghĩa là phê rõ ràng, minh bạch; “chỉ thượng” nghĩa là trên giấy (chỉ: giấy; thượng: trên). “Phê minh chỉ thượng” nghĩa là phê rõ ràng minh bạch lên trên giấy. “Giai phi” nghĩa là đều sai. Đúng là “giọng nhà quan có gang có thép”

“Để ông phê minh chỉ thượng cho khỏi hoài nghi:

Cua, rùa, cá đuối – giai phi! ”

Không khí nha môn trở nên nghiêm trang. Câu chuyện như được “thắt lại ” để tiếng cười bật ra trước cử chỉ “coi lại ” và lời phê phán của quan với giọng “ờ, ờ”:

“Ờ, ờ đem cho ông coi lại,

Ấy chỉ thị là con bò cạp nước”

Con sam mà mụ vợ anh nhà quê tưởng là con cua, anh nhà quê cho là con rùa; thằng cha xã bảo là con cá đuối. Đến quan huyện thì con sam đã trở thành con bò cạp nước. Xưa nay, chưa hề có con vật nào gọi là con bò cạp nước cả. Quan bịa ra một cách buồn cười. Đúng là “muốn nói gian làm quan mà nói”

Truyện “Mua cua ” châm biếm sự dốt nát và cách chống chế sự dốt nát trong cuộc đời. Sâu xa hơn nữa, qua truyện “Mua cua “, dân gian đã chế giễu sự dốt nát nhưng lại làm ra vẻ công minh, sáng suốt của bọn quan lại. Những vị “quan trưởng” ấy trong xã hội nào cũng chỉ là những vai hề lố bịch. Dân đen biết cậy nhờ vào ai?

Nguồn: chúng tôi

Truyện Cười Dân Gian: Sợ Vỡ Mật.

Hai người cùng sợ vợ, lâu ngày thành bệnh, một người khạc ra đờm đỏ, một người khạc ra đờm xanh. Họ rủ nhau đi tìm thầy chạy chữa. Thầy bảo: – Ðờm đỏ, may còn hi vọng, chứ đờm xanh thì chịu, không sao chữa được nữa. Nên về mà lo hậu sự đi thôi. Cả hai cùng hỏi thầy: – Sao đờm xanh, đờm đỏ lại khác nhau như thế? Thầy nói: – Ðờm đỏ tự phổi ra, họa còn có phương cứu chữa, chứ đờm xanh là mật vỡ mất rồi, còn chữa thế nào cho lành được.

Bao giờ mình mới được đi nhậu cùng với anh em.

Lo lắng cho sức khỏe của chồng, sếp bà hỏi sếp ông:

– Tôi để ý thấy dạo này thần sắc của ông kém quá. Chắc ở cơ quan sắp có chuyện gì hệ trọng diễn ra phải không?

Sếp ông lo lắng:

– Tuần tới sẽ có đoàn thanh tra cấp cao xuống cơ quan tôi kiểm tra tất cả văn bằng, chứng chỉ của toàn thể cán bộ. Ở cơ quan tôi hầu như ai cũng có ít nhất một văn bằng hoặc chứng chỉ giả. Bà biết tôi có tới… năm bảy cái. Họ mà lần ra là chết chắc.

Sếp bà nghe xong nở nụ cười bí hiểm:

– Tôi nghĩ ra một giải pháp, vừa giúp ông đường hoàng thoát hiểm, vừa nở mày nở mặt với thiên hạ.

Sếp ông nửa tin nửa ngờ hỏi:

– Ý của bà ra sao?

– Ông gấp rút đăng tin “Mất giấy tờ” trên các đài truyền hình, truyền thanh, cơ quan báo chí khắp cả nước. Đại khái như thế này: “Vào lúc… giờ… ngày… tháng… năm… Trên đường đi từ… đến… Tôi có đánh rơi một chiếc ví. Bên trong có các loại giấy tờ như sau: Một bằng Tiến sĩ, một bằng Cao cấp chính trị, một chứng chỉ C Anh ngữ… Ai nhặt được vui lòng liên hệ…”. Như thế ông vừa có cớ hợp pháp để khỏi bị thanh tra, đồng thời khiến nhiều người thán phục về bộ sưu tập bằng cấp, chứng chỉ thuộc dạng khủng của ông.

Sếp ông nghe xong vỗ đùi bôm bốp, giọng hân hoan:

– Diệu kế! Bà đúng là sáng suốt.

Mình nên chọn cái nào bây giờ nhỉ?