Top 11 # Xuất Xứ Bài Thơ Cảnh Ngày Hè Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Tìm Xuất Xứ Bài Thơ ‘Cảnh Khuya’ Của Bác Hồ

Tìm xuất xứ bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ

(VH&ĐS) Tháng 12/2013, trở lại các tỉnh Việt Bắc để xác minh một số tài liệu và thu thập thêm tư liệu về Bác Hồ thời kỳ Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và thời kỳ Bác trở lại chiến khu Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Người ngồi đó với cây chì đỏ – vạch đường đi từng bước, từng giờ (thơ Tố Hữu).

Đến Việt Bắc không thể không đến ATK Định Hoá. Và, đến ATK Định Hoá, không thể không đến đồi Khau Tý – một di tích lịch sử văn hoá được bảo tồn nguyên vẹn. Mỗi lần đến là một lần xúc động.

Trên đường lên Chiến khu Việt Bắc (ATK) Bác Hồ và những đồng chí cùng đi đã đến xã Điểm Mặc, huyện Định Hóa ngày 20/5/1947, đúng như dự định. Tại đây những ngày đầu Bác ở bản Quyên, nhà Chủ tịch xã Ma Đình Trường, sau đó chuyển lên ở lán trên đồi Khau Tý, thôn Nà Tra. Đồi Khau Tý, tiếng địa phương gọi là đồi Cây Thị. Lán được dựng theo đúng với kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc Định Hóa, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, vách dựng bằng liếp nứa. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng (được Bác Hồ đặt tên trong số 8 đồng chí) kể trong cuốn Những năm tháng bên Bác “Chúng tôi làm riêng cho Bác một cái “lầu”. Tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí ẩm thấp của núi rừng. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải sang trái vừa chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ”.

Định Hóa được chọn làm trung tâm ATK vì đây là vùng địa hình núi non hiểm trở, địch không thể dùng xe cơ giới tấn công, mà ta thì lại sẵn các đường nhỏ xuyên rừng nối liền với các vùng Tây Bắc, vùng trung du, vùng đồng bằng. Năm 1906, nhà chí sĩ ái quốc Phan Bội Châu đã từ Quảng Châu (Trung Quốc) tìm về Định Hóa khảo sát, định xây dựng vùng này thành căn cứ địa chống Pháp.

Thu Đông 1947, thực dân Pháp tập trung binh lực, huy động hơn một vạn quân tinh nhuệ gồm cả Hải, Lục, Không quân mở một đợt tấn công quy mô, chia hai gọng kìm khép chặt Việt Bắc hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Trong vòng vây trùng điệp bốn bề của địch, Bác và Trung ương chỉ đạo sáng suốt các cơ quan và đơn vị bộ đội di chuyển và thực hiện phương châm vừa đánh vừa tránh địch ở các địa bàn Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang.

Một tối cuối thu đầu đông, Bác cho mời đồng chí Ma Đình Kháng – Chủ tịch huyện Định Hóa đến lán Bác ở. Hai Bác cháu chuyện trò trong lán dưới tán lá cổ thụ giữa những khóm hoa rừng, xa xa tiếng suối đổ đều đều từ phía chân đồi vọng lại. Bác hỏi đồng chí Kháng về việc vạch kế hoạch tác chiến của huyện khi địch đánh tới đây thì thế nào và Bác sẽ chuyển đi đâu. Đồng chí Kháng báo cáo đầy đủ, tỉ mỉ, chi tiết về kế hoạch đã được chuẩn bị chu đáo. Tận khuya, dưới ánh trăng vàng, Bác tiễn đồng chí Kháng ra về, trở lại giữa rừng khuya trăng sáng, vẻ trầm ngâm, hứng thơ đến với Bác.

Luật sư Phan Anh cũng cho biết: Trong những ngày cực kỳ gay go, khó khăn của những tháng, năm đầu ở Việt Bắc, Bác đã phân tích và chỉ rõ những thuận lợi và những khó khăn của ta và địch. Bác phán đoán những hoạt động của các cánh quân của Pháp, Bác vẽ trên đất về đường tiến, đường lui của địch và của ta và giảng giải cặn kẽ: Chúng bao vây ta với thế gọng kìm ta phải luồn ra ngoài gọng kìm ấy để không mắc vào tròng của chúng. Khi địch rút lui ta lại về chỗ cũ. Luật sư cũng kể lại: chính trong những ngày gay go ấy, sau hôm gặp Bác ở Tràng Xá, ông nhận được thư của Bác, kèm theo một đoạn thơ:

Đêm khuya nhân lúc quan hoài

Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, gió lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Nước nhà đang gặp lúc gay go

Trăm việc ngàn công đều phải lo

Giúp đỡ anh em nên gắng sức

Sức nhiều thắng lợi lại càng to.

Từ sự kiện Bác trò chuyện với đồng chí Ma Đình Kháng và lời kể của luật sư Phan Anh cho ta biết được hoàn cảnh để có 10 câu thơ trên, giúp ta hiểu thêm Bác và thơ Bác. Mặc dù trong những giờ phút đương gặp lúc gay go với lo nỗi nước nhà, Bác vẫn có lúc quan hoài, vẫn có thơ, vẫn có nụ cười dí dỏm Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần.

Luật sư Phan Anh rất cảm động và xúc động khi đọc những câu thơ của Bác nên đã ứng tác họa vần:

Họa vần xin gửi cho ai

Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non

Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa

Trời có trăng và núi có hoa

Trăng sáng bao la trời đất nước

Hoa thơm phảng phất vị hương nhà

Nước nhà đang gặp bước gay go

Lái vững chèo dai ta chẳng lo

Vượt sóng, dựng buồm, ta lựa gió

Thuận chiều, ta mở cánh buồm to.

Sau này, năm 1967 Nxb Văn học làm sách Thơ – Hồ Chủ tịch, những người biên tập chỉ đưa bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Ở câu thứ hai của bài thơ bốn câu này chữ gió được thay bằng chữ bóng.

Quả là bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya diễn đạt trọn vẹn một tứ thơ hay, độc đáo, bất ngờ. Có thể nói được rằng, bốn câu thơ trên hoàn toàn đủ các yếu tố, thành phần của một bài thơ tứ tuyệt hoàn chỉnh, hiểu và cảm nó trọn vẹn như những bài thơ tứ tuyệt khác vậy. Bài thơ Cảnh khuya giúp ta hiểu rõ vì sao đêm khuya Bác chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, đồng thời hé mở một tâm hồn lớn, một bản lĩnh thi nhân tràn đầy sức sống và nhạy cảm trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Dù bề bộn đến đâu, trong lúc lo chăm công nghìn việc cho kháng chiến, cho dân, cho nước, Người vẫn dành một khoảng tâm hồn mình cho thiên nhiên thơ mộng cho trăng cho hoa – tâm hồn thi nhân của Người lúc nào cũng rộng mở vẫn không hề quên những việc nước, việc dân. Những cái mâu thuẫn tưởng như đối ngược lại thống nhất trong con người Bác, thật là kỳ diệu. Bài thơ đã đi vào các thế hệ bạn đọc và ở lại trong lòng bạn đọc cùng với thời gian năm tháng.

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, Tấm quan hoài nước non của Bác là từ lán Bác ở và làm việc trên đồi Khau Tý. Đồi này, lán này vẫn được lưu giữ. Ai đã từng đặt chân đến lán Khau Tý không thể không ngước nhìn cây đa cổ thụ cao to xum xuê cành lá giữa những khóm hoa rừng không thể không xúc động nhất là khi nhìn cây dâm bụt Bác trồng từ năm 1947 vẫn xanh tươi, tràn trề sức sống. Trong tĩnh lặng, xa xa dưới chân đồi Khau Tý, dòng suối Nà Tra róc rách, róc rách chảy như tiếng hát xa. Nhà văn Hoàng Quảng Uyên khi đến thăm nơi này, đã rất xúc động, cảm xúc dâng trào, đột xuất có một mong muốn, một đề xuất: “Sáu mươi năm rồi, quá khứ hiện tại đan dệt. Trong mối liên tưởng đa chiều chợt dâng ước muốn nho nhỏ – giá chi dựng ở nơi đây một tấm bia đề bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ làm gần lại khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và mơ, để du khách đến đây sẽ không chỉ được thăm nơi đầu tiên Bác Hồ ở khi trở lại chiến khu Việt Bắc mà còn thăm nơi đầu tiên của nhà thơ Hồ Chí Minh, nơi nhà thơ sáng tác bài Cảnh khuya trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, thả hồn ngẫm ngợi trong sự hòa quyện giữa lịch sử và thơ. Sáng trong và linh thiêng”(1).

Lê Xuân Đức

(1) Báo Văn nghệ số 03 ngày 20-1-2007.

Cảnh Ngày Hè

– GV chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 6 – 7 HS ngồi theo sơ đồ chữ U. – Dựa vào các thông tin trong phần Tiểu dẫn, GV tổ chức trò chơi học tập với các câu hỏi cụ thể như sau: + Câu 1: Dòng nào sau đây không đúng về nội dung của Quốc âm thi tập? A. Tập thơ phản ánh tình yêu thiên nhiên, quê hương của Nguyễn Trãi B. Tập thơ bộc lộ lí tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân của Nguyễn Trãi C. Tập thơ là tiếng nói lên án những bất công, ngang trái của xã hội phong kiến đương thời. D. Tập thơ là tiếng lòng của tâm hồn tha thiết với con người, cuộc đời của Ức Trai. + Câu 2: Điểm đặc sắc nhất trong nghệ thuật của Quốc âm thi tập là gì? A. Ngôn ngữ nghệ thuật vừa trang nhã vừa bình dị B. Hình tượng nghệ thuật vừa cao cả vừa gần gũi C. Chất liệu dân gian vừa phong phú vừa linh hoạt D. Thể thơ thất ngôn Đường luật của Trung Quốc được tác giả vừa kế thừa vừa sáng tạo + Câu 3: Điền vào chỗ trống: Quốc âm thi tập là tập thơ Nôm…hiện còn. Với tập thơ này, Nguyễn Trãi là một trong những người … và … cho sự phát triển của thơ tiếng Việt. A. sớm nhất, kế thừa, phát huy B. sớm nhất, đặt nền móng, mở đường C. duy nhất, đi đầu và tiên phong D. duy nhất, đặt nền móng, mở đường + Câu 4: Bài thơ Cảnh ngày hè thực chất là bài Bảo kính cảnh giới số 43. Vậy “Bảo kính cảnh giới” có nghĩa là gì? A. Gương báu răn mình B. Gươm báu răn mình C. Tự dặn chính mình D. Gương sáng soi mình + Câu 5: Bài Cảnh ngày hè được viết bằng thể thơ nào? A. Thất ngôn tứ tuyệt B. Tự do C. Thất ngôn bát cú D. Lục bát – HS trả lời theo nhóm bằng các phiếu trả lời trắc nghiệm – Giáo viên tổng kết lại nội dung cần ghi nhớ về tập thơ Quốc âm thi tập và bài thơ Cảnh ngày hè. Học sinh lắng nghe, ghi chép.  

Đọc Hiểu Bài Thơ Cảnh Ngày Hè

II. Rèn kỹ năng phân tích cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi

1. Mạch cảm xúc của bài thơ : Từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có phần chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn đó là mạch cảm xúc của Cảnh ngày hè. 2. Bức tranh mùa hè : Cảnh ngày hè hiện ra thật đẹp, đầy sức sống với những chi tiết cụ thể, sinh động : tán hoè xanh thẫm che rợp, thạch hựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như tiếng đàn vang dội lên. Bức tranh cho thấy sức sống sinh sôi, rạo rực khắp nơi nơi. 3. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ : Miêu tả cảnh ngày hè, tác giả đã sử dụng các động từ, tính từ, từ láy giàu sức gợi hình tượng và cảm giác. Ở câu 2, 3, 4, 5, 6 là các từ : đùn đùn, giương, phun, đỏ, tiễn, lao xao, dắng dỏi. Từ đùn đùn gợi tả sắc xanh thẫm của tán hoè lớp lớp, liên tiếp tuôn ra, giương rộng ra ; từ phun gợi sự nổi bật, bắt mắt của màu đỏ hoa lựu ; tiễn (ngát, nức) gợi tả sức lan toả của hương sen ; từ lao xao, dắng dỏi đảo lên trước chợ cá, cầm ve làm nổi bật âm sắc rộn ràng, râm ran rất riêng của mùa hè. Dưới cái nhìn của tác giả, những sự vật vốn tĩnh trở nên động. Chuyển tĩnh thành động, sự cảm nhận cảnh ngày hè của nhà thơ bộc lộ rõ tình yêu sự sống sinh sôi, cái động của thiên nhiên, cảnh vật phản ánh cái động trong lòng người. 4. Nhịp điệu và tiết tấu giàu sức gợi tả : Bức tranh ngày hè sinh động không những được gợi tả bằng hình ảnh màu sắc, âm thanh, sự chuyển động tinh tế của sự vật mà còn thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu. Với đặc điểm về số câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8), lối đối ngẫu ở hai liên giữa (cặp câu 3 – 4, 5 – 6) thì vẫn thấy đây là bài thơ thất ngôn bát cú. Nhưng bài thơ có một số điểm khác so với thất ngôn bát cú Đường luật : – Câu 1 và câu 8 chỉ có sáu chữ nên chúng thành những câu độc lập, không gắn với câu 2 và câu 7 thành liên như thể thơ Đường luật. – Đa dạng hơn về nhịp điệu : Câu 1 : 1 / 2 / 3 Câu 2 : 4 / 3 (hoặc 1 / 3 / 3 Câu 3 : 3 / 4 Câu 4 : 3 / 4 Câu 5 : 2 / 2 / 3 Câu 6 : 2 / 2 / 3 Câu 7 : 3 / 4 Câu 8 : 3 / 3.

5. Tâm sự của nhà thơ : Sắc thái của cảnh vật trong bức tranh về sự sống mùa hè đã cho thấy tâm trạng phấn chấn trước vẻ đẹp của cuộc sống đã “phá vỡ” cái tĩnh tại của cuộc sống nhàn dật thuần tuý, qua đó bộc lộ niềm quyến luyến, thiết tha lớn với cuộc đời. Nỗi lòng của nhà thơ đối với đời, với cuộc sống nhân dân hiện ra rõ nét ở hai câu cuối bài. Ông nói đến cây đàn của Ngu Thuấn với mong ước thanh bình, no đủ cho muôn dân. Niềm tha thiết, gắn bó với đời được cụ thể bằng niềm mong mỏi giàu đủ cho nhân dân. Ngay cả trong không gian nhàn dật, ý thức nhập thế, giúp đời luôn thường trực trong tâm hồn Nguyễn Trãi. 6. Cảnh và tình trong bài thơ được kết hợp hài hoà. Tả cảnh ngày hè, bài thơ là một bức tranh tràn đầy sức sống. Sức sống của sự vật trong trong bức tranh tả cảnh mùa hè cũng thể hiện cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ. Cảnh gợi cảm xúc, cảm xúc chi phối cái nhìn và tái hiện cảnh vật.

Nhận xét

Cảnh Ngày Hè Nguyễn Trãi

Bùi Đức Quân

Website Luyện thi online miễn phí,hệ thống luyện thi trắc nghiệm trực tuyến miễn phí,trắc nghiệm online, Luyện thi thử thptqg miễn phí

Hoàn cảnh sáng tác Cảnh ngày hè, Cảnh ngày hè Giáo án, Cảm nhận Cảnh ngày hè, Cảnh ngày hè Thi Viện, Thuyết minh Cảnh ngày hè, Cảnh ngày hè ngắn nhất, Ý nghĩa nhân đề Cảnh ngày hè, Phép đời trong bài Cảnh ngày hè

Hoàn cảnh sáng tác Cảnh ngày hè, Cảnh ngày hè Giáo án, Cảm nhận Cảnh ngày hè, Cảnh ngày hè Thi Viện, Thuyết minh Cảnh ngày hè, Cảnh ngày hè ngắn nhất, Ý nghĩa nhân đề Cảnh ngày hè, Phép đời trong bài Cảnh ngày hè

ĐỀ 1 :Có ý kiến cho rằng: Đọc thơ văn Nguyễn Trãi, chúng ta không chỉ nhận thấy rung động trước tình yêu thiên nhiên thiết tha, đằm thắm của ông với thiên nhiên đất nước tươi đẹp mà còn thấy cả tấm lòng hết mực vì nước vì dân.

Qua bài thơ Cảnh ngày hè hãy làm rõ ý kiến trên.

DÀN Ý CHI TIẾT

Nhắc đến thơ văn thời kỳ trung đại chúng ta không thể không nhắc đến một trong những trụ cột làm nên sự phong phú cho văn thơ thời kỳ này: Nguyễn Trãi. Ông là nhà thơ của thiên nhiên Non nước cùng ta đã có duyên (Tự thán, Bài 4). Ông đến với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh: thời chiến, thời bình; lúc vui, lúc buồn; khi bận rộn, khi thư giãn …Trong hoàn cảnh nào tâm hồn nhà thơ cũng rộng mở đón nhận thiên nhiên Túi thơ chứa hết mọi giang san (Tự thán, Bài 2). Tuy vậy tác phẩm của Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên thiết tha, vừa mang đậm nét tình cảm yêu nước, thương dân.

Có ý kiến cho rằng Đọc thơ văn Nguyễn Trãi, chúng ta không chỉ nhận thấy rung động trước tình yêu thiên nhiên thiết tha, đằm thắm của ông với thiên nhiên đất nước tươi đẹp mà còn thấy cả tấm lòng hết mực vì nước vì dân. Lời nhận xét tuy ngắn gọn nhưng đã tổng kết được một nội dung bao trùm thơ văn Nguyễn Trãi: Tình yêu thiên nhiên và tấm lòng vì nước vì dân. Tiêu biểu có thể kể đến

bài thơ

Cảnh ngày hè

(Báo kính cảnh giới,  Số 43) là

bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả:

Rồi hóng mát thuở ngày trường

Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương.

Bài thơ Cảnh ngày hè được sáng tác vào thời gian Nguyễn Trãi về nghỉ ở Côn Sơn. Ông tạm thời xa lánh chốn kinh đô tấp nập ngựa xe và chốn cửa quyền hiểm hóc để về với thiên nhiên trong trẻo, an lành nơi thôn dã, bầu bạn cùng dân cày cuốc, cùng mây nước, chim muông, hoa cỏ hữu tình. Trong những tháng ngày dài nhàn nhã bất đắc dĩ ấy, nhà thơ có lúc thấy vui trước cảnh vật mùa hè tưng bừng sức sống và kín đáo gửi vào những vần thơ tả cảnh một thoáng khát vọng mong cho dân giàu, nước mạnh. Bài thơ phản ánh tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước.

Mở đầu Nguyễn Trãi giới thiệu hoàn cảnh đón nhận cảnh ngày hè của mình:

Rồi hóng mát thuở ngày trường

Lẽ ra câu thơ phải bảy chữ mới đúng là thể thất ngôn bát cú quen thuộc, song Nguyễn Trãi đã lược đi một chữ. Đây cũng là một cách tân táo bạo, mới mẻ trong thơ Nôm nước ta thuở ấy. Nhịp thơ 1/2/3, chậm rãi phản ánh tư thế ung dung, tự tại vốn có của tác giả. Chữ Rồi tách riêng thành một nhịp thể hiện cảm nhận của tác giả về tình cảnh của mình. Rồi là từ cổ, cổ nghĩa là nhàn nhã, không vướng bận điều gì

. Nguyễn Trãi đang ở ẩn nên ông hoan toàn rỗi rãi, tâm hồn thư thái không lo việc quan trường, thanh thản cảm nhận cảnh ngày hè, cảm nhận cảnh vật thanh bình yên vui.

Không có việc gì quan trọng, cần kíp để làm cả, chỉ có mỗi việc là hóng mát. Ngày trường là ngày dài.

Âm điệu từ trường ngân dài cho cảm giác thời gian trôi rất chậm, một ngày với khí trời mát mẻ, không khí trong lành.

Đây là cảm giác tâm lí về thời gian của người đang sống trong cảnh nhàn rỗi, thấy ngày dường như dài ra.

Câu thơ mở đầu như một lời giới thiệu thời gian rảnh rảnh rỗi, tâm hồn thư thái, thanh thản. Đây là hoàn cảnh lí tưởng để Nguyễn Trãi làm thơ và yêu say cảnh đẹp nhưng câu thơ dường như còn là tiếng thở dài. Nguyễn Trãi là con người sinh ra để hành động. Thế mà lúc này, con người hành động ấy phải nói: Rồi, hóng mát thuở ngày trường.

Nhịp thơ thật lạ lùng như kéo dài cảm giác của một ngày ăn không ngồi rồi: tạo điểm nhấn ở một nhịp đầu tiên, sau đó là năm chữ nối thành một hơi thơ như tiếng thở dài. Nhà thơ nói về việc hóng mát mà không hề đem lại cảm nhận nhàn tản thật sự. Hai chữ ngày trường lại hiện ra bao nỗi chán chường của một ngày dài vô vị. Giữa lúc xây dựng non sông sau chiến tranh, việc dân việc nước bời bời mà ông lại không làm được gì, chỉ Rồi hóng mát hết cả ngày dài thì quả là trớ trêu. Hưởng nhàn mà không hề thư thái! Đây là một sự an nhàn bất đắc dĩ của con người nhàn thân mà không nhàn tâm. Câu thơ nêu lên hoàn cảnh sáng tác mà thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa.

Thế nhưng nhìn ở khía cạnh tinh thần, Nguyễn Trãi không phải là kẻ bi quan, yếm thế. Nghị lực, niềm tin được mài giũa của thời kì nếm mật nằm gai đã giúp ông vượt lên hoàn cảnh, số phận. Ông vẫn nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước. Vẻ đẹp của cuộc sống người dân đáng lẽ sẽ sung túc, no ấm hơn đất nữa trong buổi thái bình. Vẻ đẹp ấy giúp chúng ta khẳng định rằng ông không chỉ là một nhà quân sự, một bậc khai quốc công thần, mà còn là một nghệ sĩ lớn. Người nghệ sĩ ấy đã vượt lên những nỗi buồn để dựng lại một bức tranh mùa hè đầy hình ảnh, sắc màu:

Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.

Chỉ vài nét bút phác họa mà bức tranh quê đã hiện lên tươi khỏe, hài hoà đầy

màu sắc tươi tắn với những hình ảnh sống động kết hợp với các động từ mạnh. Màu xanh của tán lá hoè cứ đùn đùn tuôn ra, hình như lan rộng mãi ra thành bóng mát như một chiếc lọng khổng lồ che rợp một khoảng sân rộng. Hình ảnh cây hòe xanh tươi đang ở độ phát triển, có sức sống mãnh liệt.

Cái nhìn thiên nhiên của Nguyễn Trãi luôn có sức bao quát, vừa gợi sức sống của không gian trong động từ đùn đùn vừa gợi cảm giác phóng khoáng trong một chữ rợp.

Chen vào khoảng tán xanh ngắt của hòe là màu đỏ tươi tắn của thạch lựu. Động từ mạnh phun thiên về tả sức sống, nó khác với tính từ lập lòe trong thơ Nguyễn Du thiên về tạo hình sắc:

Dưới trăng quyên đã gọi hè,

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông.

Chúng ta bắt gặp sự đồng điệu trong tâm hồn của hai nhà lớn nhưng mỗi câu thơ của mỗi tác giả có nét đặc sắc riêng. Nếu Nguyễn Du thiên về màu sắc thì với Nguyễn Trãi dùng động từ mạnh phun thiên về sức sống của cảnh vật thiên nhiên, muốn diễn tả trạng thái tinh thần của sự vật, gợi tả những bông thạch lựu bung nở tựa hồ như một cơn mưa hoa. Một màu sắc nữa góp vào cho bức tranh thiên nhiên thêm sống động là màu hồng của hoa sen nở đầy trong ao. Tính từ ngát gợi sự bừng nở, khoe sắc, không gian tràn ngập mùi hương ngào ngạt của hoa sen mùa hạ. Những động từ mạnh, màu sắc tươi tắn

gợi tả sức sống căng đầy chất chứa bên trong sự vật, tạo nên những hình ảnh mới lạ, ấn tượng. Câu thơ thứ hai ngắt nhịp 4/3. Hai câu thơ tiếp theo đổi nhịp thành 3/4, tạo thêm cho cảnh vật vẻ sinh động, rộn ràng.

Ba câu thơ đem lại một bức tranh thiên nhiên nhiều màu sắc, cùng những hình ảnh đặc trưng của không gian mùa hè. Tầm nhìn không thu hẹp mà trải từ gần ra xa, theo quy luật đăng đối ở hai câu tả thực, khéo léo đan cài sắc đỏ của thạch lựu trước hiên nhà cùng sắc hồng của ao sen. Câu trên tả sắc, câu dưới gợi hương. Thiên nhiên ấy cũng chứa chan bao cảm xúc, lúc dịu nhẹ lan tỏa lúc bừng bừng phun trào. Để rồi cuối cùng đọng lại cảm giác man mác tiếc nhớ làn hương thanh thoát của sen hồng lúc cuối hè. Phải là một người có tâm hồn tinh tế mới cùng một lúc diễn tả được nhiều cảm giác trong chỉ vài ba câu thơ cô đọng. Giữa khung cảnh thiên nhiên ấy, nhà thơ dường như cũng nguôi ngoai bao nỗi niềm, để lòng mình hòa cùng thiên nhiên đầy sức sống.

Không chỉ nhìn bằng mắt mà Nguyễn Trãi còn trải lòng lắng nghe những thanh âm muôn vẻ của thiên nhiên:

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Có một sự chuyển đổi cảm xúc trong cách lắng nghe những âm thanh của cuộc sống. Giờ đây, những thanh âm lại được cảm nhận từ xa đến gần, từ lao xao đến dắng dỏi. Thiên nhiên không hề tĩnh lặng u trầm trong thời điểm chiều buông mà trái lại rất sôi động và gần gũi với tấm lòng thiết tha yêu sự sống của nhà thơ.

Tiếng lao xao của chợ cá từ xa vọng lại, âm thanh đặc trưng của làng chài, dấu hiệu sự sống của con người.

Âm thanh gợi rõ cuộc sống thanh bình của những người dân chài, cảnh mua bán tấp nập mà không quá ồn ào để khuấy động không gian hưởng nhàn của nhà thơ. Dường như Nguyễn Trãi đã chủ động hướng lòng mình về với chợ cá, làng ngư phủ để thấy bản thân không cách xa với đời thường. Âm vang cuộc sống thực ấy tạo thành mối dây liên hệ giữa nhà thơ với nhân dân. Có thể thấy

sự tinh tế và tấm lòng luôn hướng đến con người của hồn thơ Ức Trai.

Xen lẫn tiếng lao xao cười nói là tiếng ve kêu râm ran như tiếng đàn, những âm thanh được gợi tả thật rộn rã tươi vui.

Cấu trúc đăng đối đã tạo nên sự hòa điệu giữa con người với thiên nhiên trong sự cân xứng làng ngư phủ – bóng tịch dương mang đậm sắc thái trang trọng cổ điển. Nghệ thuật đảo ngữ, đưa từ tượng thanh lao xao đặt trước hình ảnh chợ cá làm nổi bật không khí nhộn nhịp của làng ngư phủ. Chợ là hình ảnh quen thuộc của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no. Chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh. Lại thêm tiếng ve dắng dỏi kêu ran lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã.

Nguyễn Trãi đã mở rộng hồn thơ, huy động nhiều giác quan và sự liên tưởng để cảm nhận, diễn tả những vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, cuộc sống ngày hè chân thực hết sức sinh động, tươi vui, vừa dân dã, giản dị vừa gợi cảm.

Thời gian mà tác giả ngắm cảnh là lúc mặt trời sắp lặn, chiều muộn, ngày tàn. Sau một ngày dài đây là khoảng thời gian con người dễ cảm thấy mệt mỏi, sự vật thì dần đi vào tàn lụi, héo úa. Vậy mà trên cái nền vàng của ánh chiều tà ấy lại là những màu sắc rực rỡ của cảnh vậy, là những âm thanh vui vẻ, rộn rã.

Nghệ thuật tương phản tạo nên một cảm hứng hết sức mới mẻ trong thơ Nguyễn Trãi khi ấn tượng ám ảnh nhà thơ không phải ánh tịch dương ảm đạm mà lại là âm thanh dắng dỏi cầm ve. Những âm thanh lao xao ấy hòa vào tiếng ve kêu dắng đỏi bất thần nổi lên trong chiều tà, báo hiệu chấm dứt một ngày hè nơi thôn dã. Tiếng ve lúc chiều tà thường gợi buồn, nhưng với nhà thợ lúc này, nó trở thành tiếng đàn rộn rã khiến tâm trạng nhà thơ cũng náo nức hẳn lên.

Nhà thơ đón nhận cảnh vật ngày hè với nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác và cả sự liên tưởng. Bài thơ có cách ngắt nhịp khá mới mẻ gây sự chú ý cho người đọc, với các động từ mạnh kết hợp tính từ chỉ màu sắc tươi tắn, rực rỡ góp phần diễn tả một bức tranh thiên nhiên mùa hè tràn đầy sức sống. Mặc dù tác giả đón nhận cảnh ngày hè trong một chiều tà, là khoảng thời gian sắp kết thúc một ngày nhưng cảnh vật thiên nhiên vẫn chứa đựng sự sống sôi động, ứa căng, đang tràn đầy, không kìm lại được.

Chỉ với năm câu thơ, cảnh vật ngày hè được miêu tả với đường nét, màu sắc, âm thanh rất đặc trưng, gợi tả, sinh động và đầy sức sống. Qua đó ta thấy vẻ đẹp thanh bình của bức tranh đời sống con người. Đồng thời cho thấy được sự giao cảm mạnh mẽ nhưng tinh tế của nhà thơ đối với cảnh vật.

Cỏ cây, hoa lá, con người đầy sức sống khơi dậy trong lòng nhà thơ cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng và những suy nghĩ chân thành, tâm huyết nhất. Đó là tình yêu cuộc sống, yêu con người và trách nhiệm đối với dân với nước. Nguyễn Trãi luôn tâm niệm lấy dân làm gốc (dân vi bản, dân vi quý) cho nên trước thiên nhiên tươi xanh, trước những con người cần cù, lam lũ, lòng ông lại dấy lên khát vọng mãnh liệt:

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương

Ngu cầm

ở đây là đàn của vua Ngu Thuấn, bậc minh quân gắn với khúc hát Nam Phong trong điển tích xưa. Nguyễn Trãi mơ ước có được chiếc đàn của vua Thuấn để gảy khúc hát Nam phong cầu mong dân giàu đủ khắp bốn phương trời.

Còn gì giản dị, thanh cao, súc tích hơn những lời thơ mộc mạc chân thành ấy! Giữa thiên nhiên tuyệt đẹp, Nguyễn Trãi không hề mong muốn hưởng thụ thú nhàn tản cho riêng mình. Ông không phải con người chỉ chăm chăm giữ lấy sự trong sạch cho riêng mình theo triết lí nhà Nho độc thiện kì thân. Ở sâu thẳm tâm hồn ông vẫn là nồi niềm ưu quốc ái dân, là khát khao hành động của một con người trọn đời vì lợi ích của nhân dân.

Vượt lên trên tất cả là tấm lòng lo cho dân, cho nước của ông. Dân giàu nước mạnh chính là mục đích, là lẽ sống suốt đời của người anh hùng Nguyễn Trãi. Lấy vua Nghiêu, Thuấn làm gương báu răn mình, tác giả bộc lộ chí hướng cao cả: luôn khao khát đem lại tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân.

Câu kết chỉ sáu chữ ngắn gọn, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài. Điểm kết tụ không phải ở thiên nhiên tạo vật mà là ở con người. Tác giả yêu thiết tha nhân dân, đất nước, mang trong mình khát vọng về cuộc sống thái bình, thịnh vượng, no ấm, hạnh phúc cho nhân dân, cho tất cả mọi người ở mọi nơi.

Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ.

Cảm động biết bao trước tấm lòng của Nguyễn Trãi. Tấm lòng vì nước vì dân ấy canh cánh mãi bên trong lòng ông, theo đuổi ông trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi lúc.

Niềm mong ước đem lại cho nhân dân cuộc sống giàu đủ, mong mỏi nhân dân khắp nơi không một tiếng hờn giận oán sầu chính là minh chứng cho nhân cách trong sáng tuyệt vời của Nguyễn Trãi.

Đọc hết bài thơ, ta không thể nghi ngờ mà khẳng định rằng Nguyễn Trãi không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa, ông còn là một nhân cách lớn của một người suốt đời vì dân, vì nước.

Cảnh ngày hè

là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi về hình thức thơ. Câu thất ngôn xen lục ngôn, các vế đối rất chỉnh, cách ngắt nhịp khá mới mẻ, sáng tạo, cách sử dụng từ láy rất tài tình. Để tăng sức biểu hiện của các tính từ và động từ, tác giả đem chúng đặt ở đầu câu. Sự thay đổi kết cấu của câu thơ như thế có ý nghĩa quan trọng, khiến bài thơ không lặp lại, luôn mới mẻ về tiết tấu, nhịp điệu. Cùng với hình ảnh gần gũi, ngôn từ bình dị, tinh tế, xen lẫn từ Hán và điển tích đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên ngày hè tươi đẹp, sinh động đầy màu sắc.

Dẫu hòa hợp đến hết mình với thiên nhiên, Nguyễn Trãi vẫn không nguôi nỗi niềm lo cho dân, cho nước. Tư tưởng lớn xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi – tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân – được thể hiện qua những rung động trữ tình dạt dào trước cảnh thiên nhiên ngày hè tràn đầy sức sống, sinh động vừa giản dị, dân dã đời thường vừa tinh tế, gợi cảm. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng Nguyễn Trãi vẫn canh cánh một tấc lòng ưu ái cũ, vẫn không quên lí tưởng nhân nghĩa, ước vọng mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu. Cảnh ngày hè là sự kết hợp hài hòa giữa tình yêu thiên nhiên và tấm lòng yêu nước thương dân của hồn thơ Ức Trai.

Đề 2:

Bàn về thơ, nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm cho rằng:

Thơ là ý lớn, tình sâu trong lời hay, tiếng đẹp

.

(Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, NXB Giáo dục, HN, 1976, tr.53)

            Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? P

hân tích bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43) của Nguyễn Trãi để làm sáng tỏ.

I. Yêu cầu về kĩ năng

       Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.

II. Yêu cầu về kiến thức

      Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm nổi bật được những ý cơ bản sau:

1. Giải thích

– Thơ là một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua tổ chức ngôn từ đặc biệt, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm.

– Thơ là ý lớn, tình sâu: Thơ là tiếng nói của đời sống tình cảm con người trước cuộc sống.

Tình cảm, cảm xúc trong thơ là thứ tình cảm mãnh liệt, có tính cá thể nhưng mang tầm phổ quát lớn lao. Đặc biệt với những thi sĩ vĩ đại, nội dung thơ trữ tình của họ thường thể hiện những vấn đề và nhu cầu bức thiết của thời đại, mang tính nhân văn cao đẹp. Những vui buồn, sướng khổ của nhà thơ hòa với những thăng trầm của dân tộc, thời đại, kiếp người.

Đây là đặc trưng của thơ về phương diện nội dung.

– lời hay, tiếng đẹp: Đây là đặc trưng về hình thức của thơ, cụ thể hơn là đặc trưng về ngôn ngữ. Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học (Mácxim Gorki). Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ của cảm xúc, được tinh luyện, lạ hóa, mang tính biểu tượng, đa nghĩa, gợi hình, gợi cảm, giàu nhạc tính… Nhà thơ tài năng phải tạo nên được những thần cú, nhãn tự, ẩn chứa những lớp trầm tích ý nghĩa sâu xa. Sáng tạo ngôn từ là sự khổ công, dày vò ghê gớm đối với nhà thơ (Đỗ Phủ, Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu).

– Ý kiến bàn đến đặc trưng của thơ: Sự gắn bó chặt chẽ giữa những đặc trưng về nội dung (tình cảm mãnh liệt, sâu sắc, phổ quát của chủ thể trữ tình) và hình thức (ngôn từ cách điệu, lạ hoá, hàm súc, giàu nhịp điệu…) của thơ ca.

2.

Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi để làm sáng tỏ ý kiến

* Tác giả, tác phẩm:

+ Nét tiêu biểu về vị trí của Nguyễn Trãi trong cuộc đời và trong thơ ca…

+ Cảnh ngày hè (do người soạn sách đặt) là bài số 43 nằm trong mục Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) có 61 bài trong tập thơ chữ Nôm đặc sắc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Tập thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi, lý tưởng nhân nghĩa, tình yêu thiên nhiên, con người, khát vọng về một cuộc sống thanh bình, hạnh phúc cho nhân dân.

* Cảnh ngày hè là bài thơ chứa đựng ý lớn, tình sâu

:

– Bức tranh ngày hè sinh động và tràn đầy sức sống qua cảm nhận của Ức Trai:

+  Tâm thế đặc biệt, hiếm có trong cuộc đời Ức Trai – Tâm hồn nhạy cảm, chủ động và tự do đến với đất trời, vạn vật

+ Bức tranh cảnh ngày hè qua xúc cảm của Nguyễn Trãi trở nên sinh động, bình dị mà khỏe khoắn và tràn đầy sức sống. Một bức tranh đậm đặc sắc màu, rộn rã âm thanh, ngào ngạt hương thơm của cỏ cây thảo mộc và nồng đượm hơi thở, sự sống của con người. Tác giả gợi tả những hình ảnh rất đặc trưng của mùa hè như hoa thạch lựu, tán hoè xanh, hương sen thơm ngát. Cảnh có sự kết hợp giữa đường nét, màu sắc, âm thanh, con người và cảnh vật: màu lục của lá hoè làm nổi bật màu đỏ của hoa thạch lựu và ánh mặt trời buổi chiều như rắc vàng lên những tán lá hoè. Tiếng ve – âm thanh đặc trưng của mùa hè hoà cùng tiếng Lao xao chợ cá – âm thanh đặc trưng của làng chài. 

+ Thi nhân đã đón nhận cảnh vật với nhiều giác quan: Thị giác, thính giác cùng sự liên tưởng hết sức tinh tế.

– Sự rung động, suy tư và nỗi niềm tâm sự mang ý lớn, tình sâu của Ức Trai:

+ Yêu thiên nhiên

: Từ bức tranh thiên nhiên sinh động và đầy sức sống ta thấy được sự giao cảm mạnh mẽ nhưng tinh tế của nhà thơ đối với cảnh vật. Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên, có sự đồng cảm với thiên nhiên sâu sắc.

+

Yêu đời, yêu cuộc sống

: Thiên nhiên qua cảm xúc của thi sĩ trở nên sinh động đáng yêu và đầy sức sống, cội nguồn sâu xa là lòng tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống của tác giả. Cảnh vật thanh bình, yên vui bởi sự thanh sẵn có trong tâm hồn nhà thơ.                                                                         

+ Tấm lòng ưu ái với dân với nước: Trong bất cứ hoàn cảnh nào Nguyễn Trãi cũng canh cánh bên lòng nỗi niềm ưu ái đối với dân với nước. Câu kết của bài thơ là một câu lục ngôn ngắn gọn Dân giàu đủ khắp đòi phương thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài. Điểm kết tụ của hồn thơ Ức Trai không phải ở thiên nhiên, tạo vật mà chính là ở con người, ở người dân. Nguyễn Trãi mong cho dân được ấm no, hạnh phúc  Dân giàu đủ, nhưng đó phải là hạnh phúc cho tất cả mọi người, mọi nơi khắp đòi phương. Bài thơ chứa đựng tư tưởng thân dân của một con người vĩ đại.

* Cảnh ngày hè là bài thơ có lời hay, tiếng đẹp:

– Nguyễn Trãi đã việt hóa thể thơ Đường luật bằng việc sáng tạo những câu thơ lục ngôn xen lẫn câu thơ thất ngôn; nghệ thuật đối cân chỉnh; biện pháp đảo trật tự cú pháp… Những sáng tạo nghệ thuật này làm cho ý thơ chắc khỏe, tạo sự mới lạ về nhạc điệu, nhạc tính cho bài thơ.

– Dùng những từ Việt thô sơ, mộc mạc, đưa ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ dân gian vào thơ một cách linh hoạt và đầy sáng tạo, giàu sức gợi. Các động từ đùn đùn, giương, phun, tiễn  thể hiện sức sống mãnh liệt của cảnh vật.   

3. Đánh giá, nâng cao vấn đề

– Ý kiến bàn về thơ của Trần Thanh Đạm

đã phần nào chỉ rõ những đặc trưng cơ bản của thơ so với các thể loại văn học khác.

– Ý kiến trên đã đặt ra yêu cầu đối với người sáng tạo thi ca: Nhà thơ cần mang vào tác phẩm của mình những ý lớn, tình sâu. Muốn vậy, người làm thơ cần sống gắn bó, sâu sắc với cuộc đời để có những xúc cảm chân thật xuất phát từ những vấn đề bản chất nhất của hiện thực, tránh đề cập tới những vấn đề quá nhỏ bé, vụn vặt.

Bởi nếu như vậy sẽ khó đến được trái tim người đọc, không bao giờ tạo thành những tác phẩm lớn, những tác giả vĩ đại. Mặt khác, người làm thơ cũng cần tâm niệm

Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời

(Nguyễn Công Trứ), phải sáng tạo nên lời hay, tiếng đẹp để truyền tải được ý lớn, tình sâu.

Điều đó vừa là thiên chức, vừa là trách nhiệm của nhà thơ, là yêu cầu thiết yếu, sống còn của sáng tạo nghệ thuật.

– Sự tiếp nhận ở người đọc thơ: Cần thấy Thơ là ý lớn, tình sâu trong lời hay, tiếng đẹp. Từ việc khai thác các yếu tố hình thức ngôn từ độc đáo, đặc sắc, người đọc sẽ khám phá và lĩnh hội được những tình ý sâu kín mà nhà thơ gửi gắm qua tác phẩm.