Top 17 # Xuất Xứ Bài Thơ Chiều Tối / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Xuất Xứ Bài Thơ Thăm Lại Pác Bó / 2023

Ngày 19-2-1961, sau Tết Nguyên đán Tân Sửu, Bác Hồ trở lại thăm Cao Bằng – nơi 20 năm trước Người đã vượt biên giới Việt – Trung về Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (29-1-1941) để lãnh đạo kháng chiến. Tuy vừa đi ô tô một đoạn đường dại quốc lộ 4 gập gềnh, khúc khuỷu từ Lạng Sơn lên, người mệt mỏi, sáng ngày 20-2-1961, Bác Hồ vẫn tranh thủ đi thăm Pác Bó. Ngày ấy, từ ngã ba Đôn Chương vào Pác Bó chưa có đường ô tô như ngày nay, chỉ có đường mòn cách xa 8 km, trời lại vừa mới mưa phùn nên đường lầy trơn rất khó đi.

Để bảo đảm an toàn cho Bác, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã chuẩn bị sẵn và đề nghị Bác đi ngựa – Bác chấp thuận. Hai chiến sĩ biên phòng lo Bác ngồi trên lưng ngựa không vững bèn chạy theo hai bên để đỡ Bác. Bác gạt đi: “Các chú khỏi lo. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Bác làm gì có xe ô tô để đi. Nếu đi công tác chặng đường gần thì đi bộ, chặng đường xa mới có ngựa cưỡi. Bác cưỡi ngựa thạo rồi”.

Sau hai mươi năm, ngày 20-2-1961, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng). Được gặp lại Người, bà con Pác Bó vô cùng xúc động. Ảnh: Người thăm lại suối Lê-nin (Pác Bó).

Vào đến bản Pác Bó, Bác và các đồng chí cùng đi thẳng vào hang Cốc Bó rồi mới quay ra gặp gỡ bà con dân bản. Từ bản Pác Bó vào khu vực hang Cốc Bó, ngựa không sao đi nổi, Bác phải chống gậy đi bộ. Năm ấy Bác đã bước sang tuổi 71, sức khỏe đã giảm nhiều, lại thêm phần xúc động khi trở lại thăm chốn xưa, nên đến đầu nguồn suối Lê-Nin, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đề nghị Bác không leo núi dốc để thăm lại hang Cốc Bó nữa. Ngước nhìn lên phía hang nằm ở lưng chừng núi, Bác bùi ngùi nói:

-Thôi, đành vậy. Nhờ các chú lên thăm hang giúp Bác. Xem nhũ đá Bác tạc tượng ông Các Mác, dưới chân ông có tượng vượn người, và trên vách hang, bác có viết bằng chữ nho bằng than củi “Ngày mùng tám tháng hai, năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt” là ngày Bác vào ở hang có còn giữ được không?

Trong khi chờ đợi đoàn người lên thăm hang, Bác thong dong đi thăm lại những phiến đá Bác kê thay bàn thế để ngồi làm việc, thăm gốc cây ổi thường ngày Bác vẫn hái lá đun uống thay chè (trước đây chỉ với tay tầm ngang đầu là hái được từng nắm lá), nay đã trở thành một cây ổi cổ thụ vươn cao hàng chục mét, gốc đã tróc vỏ trơ lõi sần sùi, thăm phiến đá nhẵn bóng dưới gốc cây si già, khi thư giãn Bác thường ngồi câu cá bên bờ suối… gợi nhớ biết bao kỷ niệm của một thời hoạt động bí mật gian truân.

Từ trên hang xuống, đồng chí Lê Quảng Ba, người từng dẫn đường cho Bác từ Trung Quốc vượt biên giới về Pác Bó và đã được sống gần gũi với Bác suốt thời gian ở Pác Bó, năm ấy là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Trung ương, thưa với Bác:

-Thưa Bác, đường lên hang trơn trượt, cỏ mọc đôi đoạn phủ cả lối đi. Còn trong hang, tượng ông Mác, tượng vượn người, dòng chữ nho Bác viết trên vách đều còn nguyên vẹn. Duy chỉ có những tấm phản kê làm giường cho Bác nằm thì đã mục nát cả.

Bác xúc động nói:

-Bà con Pác Bó tốt quá. Trước đây, nếu không được bà con đùm bọc, cưu mang thì làm sao Bác sống qua được những ngày cách mạng còn đen tối. Nay đã 20 năm qua đi, lại vẫn giữ gìn, bảo vệ cả cái hang Bác ở. Hôm nay, Bác rất vui. Bây giờ còn ít phút, Bác và các chú ta cùng làm một bài thơ. Chủ đề là tức cảnh thăm lại hang Cốc Bó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt – Các chú có đồng ý không?

Mọi người vỗ tay hưởng ứng, Bác liền chỉ tay vào đồng chí Hồng Kỳ, lúc ấy là Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng:

-Chú là Bí thư, chú xướng câu mở đầu.

Đồng chí Hồng Kỳ lắc đầu, gãi tai, cười trừ:

-Thưa Bác, cháu là Bí thư nhưng cháu rất là bí thơ. Cháu không biết làm thơ đâu ạ!

Bác phê bình khéo:

-Đáng lẽ chú là Bí thư thì phải giỏi làm thơ mới đúng. Thơ cũng là vũ khí cách mạng. Có khi cán bộ nói cả buổi mà quần chúng không nghe ra, nhưng chỉ đọc mấy vần thơ thì ai cũng hiểu. Thôi được, tha cho chú. Vậy, Bác chỉ định người khác vậy.

Bác nhìn quanh rồi chỉ vào đồng chí Tố Hữu:

-Đồng chí Lành vậy – Chú là nhà thơ mà.

Đồng chí Tố Hữu cũng lắc đầu cười:

-Dạ, ở đây Bác là người có tuổi hơn cả. Xin kính lão đắc thọ, mời Bác khai thơ trước ạ!

Bác cười to:

-Các chú khôn thật, định dồn Bác vào chân tường đấy phỏng? Được, Bác sẽ khai thơ vậy.

Suy nghĩ giây lát, Bác đọc hai câu mở bài:

Hai mươi năm trước ở hang này

Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây

Đấy, Bác mở đến nửa phần bài thơ. Bây giờ đến lượt các chú làm hai câu thơ cuối.

Mọi người vỗ tay hoan hô. Rồi mỗi người thêm một ý, góp một câu, cuối cùng Bác kết luận:

Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu

Non sông gấm vóc có ngày nay

Thế là bài thơ hoàn thành. Thực ra bài thơ là “Không đề”, về sau này khi xuất bản mới đặt tên bài thơ là Thăm lại Pác Bó.

Lê Hồng Bảo Anh

Tìm Xuất Xứ Bài Thơ ‘Cảnh Khuya’ Của Bác Hồ / 2023

Tìm xuất xứ bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ

(VH&ĐS) Tháng 12/2013, trở lại các tỉnh Việt Bắc để xác minh một số tài liệu và thu thập thêm tư liệu về Bác Hồ thời kỳ Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và thời kỳ Bác trở lại chiến khu Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Người ngồi đó với cây chì đỏ – vạch đường đi từng bước, từng giờ (thơ Tố Hữu).

Đến Việt Bắc không thể không đến ATK Định Hoá. Và, đến ATK Định Hoá, không thể không đến đồi Khau Tý – một di tích lịch sử văn hoá được bảo tồn nguyên vẹn. Mỗi lần đến là một lần xúc động.

Trên đường lên Chiến khu Việt Bắc (ATK) Bác Hồ và những đồng chí cùng đi đã đến xã Điểm Mặc, huyện Định Hóa ngày 20/5/1947, đúng như dự định. Tại đây những ngày đầu Bác ở bản Quyên, nhà Chủ tịch xã Ma Đình Trường, sau đó chuyển lên ở lán trên đồi Khau Tý, thôn Nà Tra. Đồi Khau Tý, tiếng địa phương gọi là đồi Cây Thị. Lán được dựng theo đúng với kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc Định Hóa, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, vách dựng bằng liếp nứa. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng (được Bác Hồ đặt tên trong số 8 đồng chí) kể trong cuốn Những năm tháng bên Bác “Chúng tôi làm riêng cho Bác một cái “lầu”. Tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí ẩm thấp của núi rừng. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải sang trái vừa chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ”.

Định Hóa được chọn làm trung tâm ATK vì đây là vùng địa hình núi non hiểm trở, địch không thể dùng xe cơ giới tấn công, mà ta thì lại sẵn các đường nhỏ xuyên rừng nối liền với các vùng Tây Bắc, vùng trung du, vùng đồng bằng. Năm 1906, nhà chí sĩ ái quốc Phan Bội Châu đã từ Quảng Châu (Trung Quốc) tìm về Định Hóa khảo sát, định xây dựng vùng này thành căn cứ địa chống Pháp.

Thu Đông 1947, thực dân Pháp tập trung binh lực, huy động hơn một vạn quân tinh nhuệ gồm cả Hải, Lục, Không quân mở một đợt tấn công quy mô, chia hai gọng kìm khép chặt Việt Bắc hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Trong vòng vây trùng điệp bốn bề của địch, Bác và Trung ương chỉ đạo sáng suốt các cơ quan và đơn vị bộ đội di chuyển và thực hiện phương châm vừa đánh vừa tránh địch ở các địa bàn Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang.

Một tối cuối thu đầu đông, Bác cho mời đồng chí Ma Đình Kháng – Chủ tịch huyện Định Hóa đến lán Bác ở. Hai Bác cháu chuyện trò trong lán dưới tán lá cổ thụ giữa những khóm hoa rừng, xa xa tiếng suối đổ đều đều từ phía chân đồi vọng lại. Bác hỏi đồng chí Kháng về việc vạch kế hoạch tác chiến của huyện khi địch đánh tới đây thì thế nào và Bác sẽ chuyển đi đâu. Đồng chí Kháng báo cáo đầy đủ, tỉ mỉ, chi tiết về kế hoạch đã được chuẩn bị chu đáo. Tận khuya, dưới ánh trăng vàng, Bác tiễn đồng chí Kháng ra về, trở lại giữa rừng khuya trăng sáng, vẻ trầm ngâm, hứng thơ đến với Bác.

Luật sư Phan Anh cũng cho biết: Trong những ngày cực kỳ gay go, khó khăn của những tháng, năm đầu ở Việt Bắc, Bác đã phân tích và chỉ rõ những thuận lợi và những khó khăn của ta và địch. Bác phán đoán những hoạt động của các cánh quân của Pháp, Bác vẽ trên đất về đường tiến, đường lui của địch và của ta và giảng giải cặn kẽ: Chúng bao vây ta với thế gọng kìm ta phải luồn ra ngoài gọng kìm ấy để không mắc vào tròng của chúng. Khi địch rút lui ta lại về chỗ cũ. Luật sư cũng kể lại: chính trong những ngày gay go ấy, sau hôm gặp Bác ở Tràng Xá, ông nhận được thư của Bác, kèm theo một đoạn thơ:

Đêm khuya nhân lúc quan hoài

Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, gió lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Nước nhà đang gặp lúc gay go

Trăm việc ngàn công đều phải lo

Giúp đỡ anh em nên gắng sức

Sức nhiều thắng lợi lại càng to.

Từ sự kiện Bác trò chuyện với đồng chí Ma Đình Kháng và lời kể của luật sư Phan Anh cho ta biết được hoàn cảnh để có 10 câu thơ trên, giúp ta hiểu thêm Bác và thơ Bác. Mặc dù trong những giờ phút đương gặp lúc gay go với lo nỗi nước nhà, Bác vẫn có lúc quan hoài, vẫn có thơ, vẫn có nụ cười dí dỏm Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần.

Luật sư Phan Anh rất cảm động và xúc động khi đọc những câu thơ của Bác nên đã ứng tác họa vần:

Họa vần xin gửi cho ai

Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non

Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa

Trời có trăng và núi có hoa

Trăng sáng bao la trời đất nước

Hoa thơm phảng phất vị hương nhà

Nước nhà đang gặp bước gay go

Lái vững chèo dai ta chẳng lo

Vượt sóng, dựng buồm, ta lựa gió

Thuận chiều, ta mở cánh buồm to.

Sau này, năm 1967 Nxb Văn học làm sách Thơ – Hồ Chủ tịch, những người biên tập chỉ đưa bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Ở câu thứ hai của bài thơ bốn câu này chữ gió được thay bằng chữ bóng.

Quả là bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya diễn đạt trọn vẹn một tứ thơ hay, độc đáo, bất ngờ. Có thể nói được rằng, bốn câu thơ trên hoàn toàn đủ các yếu tố, thành phần của một bài thơ tứ tuyệt hoàn chỉnh, hiểu và cảm nó trọn vẹn như những bài thơ tứ tuyệt khác vậy. Bài thơ Cảnh khuya giúp ta hiểu rõ vì sao đêm khuya Bác chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, đồng thời hé mở một tâm hồn lớn, một bản lĩnh thi nhân tràn đầy sức sống và nhạy cảm trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Dù bề bộn đến đâu, trong lúc lo chăm công nghìn việc cho kháng chiến, cho dân, cho nước, Người vẫn dành một khoảng tâm hồn mình cho thiên nhiên thơ mộng cho trăng cho hoa – tâm hồn thi nhân của Người lúc nào cũng rộng mở vẫn không hề quên những việc nước, việc dân. Những cái mâu thuẫn tưởng như đối ngược lại thống nhất trong con người Bác, thật là kỳ diệu. Bài thơ đã đi vào các thế hệ bạn đọc và ở lại trong lòng bạn đọc cùng với thời gian năm tháng.

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, Tấm quan hoài nước non của Bác là từ lán Bác ở và làm việc trên đồi Khau Tý. Đồi này, lán này vẫn được lưu giữ. Ai đã từng đặt chân đến lán Khau Tý không thể không ngước nhìn cây đa cổ thụ cao to xum xuê cành lá giữa những khóm hoa rừng không thể không xúc động nhất là khi nhìn cây dâm bụt Bác trồng từ năm 1947 vẫn xanh tươi, tràn trề sức sống. Trong tĩnh lặng, xa xa dưới chân đồi Khau Tý, dòng suối Nà Tra róc rách, róc rách chảy như tiếng hát xa. Nhà văn Hoàng Quảng Uyên khi đến thăm nơi này, đã rất xúc động, cảm xúc dâng trào, đột xuất có một mong muốn, một đề xuất: “Sáu mươi năm rồi, quá khứ hiện tại đan dệt. Trong mối liên tưởng đa chiều chợt dâng ước muốn nho nhỏ – giá chi dựng ở nơi đây một tấm bia đề bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ làm gần lại khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và mơ, để du khách đến đây sẽ không chỉ được thăm nơi đầu tiên Bác Hồ ở khi trở lại chiến khu Việt Bắc mà còn thăm nơi đầu tiên của nhà thơ Hồ Chí Minh, nơi nhà thơ sáng tác bài Cảnh khuya trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, thả hồn ngẫm ngợi trong sự hòa quyện giữa lịch sử và thơ. Sáng trong và linh thiêng”(1).

Lê Xuân Đức

(1) Báo Văn nghệ số 03 ngày 20-1-2007.

Phân Tích ”Chiều Tối” / 2023

Quách Như Thảo

Quách Như Thảo 

Tìm kiếm

Display results as : Số bài Chủ đề

Advanced Search

Quách Như Thảo :: Góc học tập :: Ngữ văn

 [Văn/11] Phân tích ”Chiều tối” – Hồ Chí Minh

Tác giảThông điệpq_thao255

Tổng số bài gửi

:

52

Join date

:

06/05/2014

5206/05/2014

Tiêu đề: [Văn/11] Phân tích ”Chiều tối” – Hồ Chí Minh   Mon May 02, 2016 8:32 am

Tiêu đề: [Văn/11] Phân tích ”Chiều tối” – Hồ Chí MinhMon May 02, 2016 8:32 am

  Cảnh chiều tối là một đề tài quen thuộc của văn chương, nó gợi tâm trạng, những cảm xúc miên man của con người. Nhưng Chiều tối này k giống như bất kì Chiều tối nào, HCM đã thể hiện lại một cách mới mẻ hơn cả. Như tên gọi, bài thơ cũng chỉ là một bức tranh vẽ cảnh hoàng hôn nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thế nhưng ẩn chứa trong đó là một ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình. Đó là cảnh chiều tối qua đôi mắt ng tù HCM ”tay bị trói, cổ đeo xích” đang bị lính áp giải ngang qua 1 vùng sơn dã. Ngày đã hết mà ng tù vẫn phải cất bước. Nhà giam mới còn xa, nỗi vất vả còn nhiều. Bài thơ hình thành trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy.

   Bài thơ mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên vào lúc chiều muộn..:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.(Quyện điểu quy lầm tầm túc thụ,Cô vân mạn mạn độ thiên không.)

   Hai câu đầu đã tái hiện thời gian và không gian của buổi chiều tối ở chốn núi rừng nơi đất khách quê người. Thời gian hiện lên là một buổi chiều tối trong khung cảnh trời rộng lớn, bao la ở núi rừng buồn vắng giữa phút ngày tàn, mây lẻ loi trôi chầm chậm. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chim bay về tổ là biểu tượng quen thuộc đc dùng để diễn tả cảnh hoàng hôn thường thấy trong thơ cổ điển, nhưng cánh chim ở đây k chỉ là 1 nét vẽ bt. Cánh chim nhỏ nhoi, chòm mây cô độc, bầu trời bao la k giới hạn. Người xưa cho đó là cách lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh rất tinh vi. Cảnh núi rừng tĩnh lặng và cách chim nhỏ mệt mỏi đó đc khắc họa bằng những nét chấm phá cổ điển. Tuy chỉ hai câu thơ, k tả màu sắc, âm thanh, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh hiu…

   Ngoại cảnh cũng chính là tâm cảnh, đó là tâm trạng của người tù bị lưu đày. Dường như lúc chiều tối ng tù ngước mắt lên nhìn bầu trời, chợt thấy cánh chim mỏi mệt đang cố bay về tổ ấm và chòm mây chầm chậm trôi ngang lưng trời. Cái nhìn của nhà thơ k đơn thuần là cái nhìn thưởng thức mà còn gửi vào đó sự lưu luyến, trìu mến của 1 tấm lòng yêu thương vô hạn. Cánh chim nhỏ bé kia như có linh hồn, mang tâm trạng con người và có cả đời sống riêng. ”Chim mỏi” tuy gợi buồn thương nhưng về rừng tìm chốn ngủ liền sau đó lại có chút gì đó ấm áp. Cánh chim mỏi mệt, cả ngày kiếm ăn vất vả, chiều tối nó trở về rừng tìm nơi trú ngụ để sớm mai lại bay đi. Người tù cũng mỏi mệt sau 1 ngày vất vả lê bước đường trường mà vẫn không biết đâu là chặng nghỉ cuối cùng của một ngày. Như vậy có sự hòa hợp cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình yêu thương mênh mông, sự nhạy cảm tinh tế của Bác dành cho mọi sự sống trên đời. Chim về rừng gắn bó với hiện thực và sự sống, 1 quan niệm mới mẻ đã đc thể hiện rằng: cái đẹp ở ngay phía sự sống, trong chính cuộc sống này. Bên cạnh hình ảnh cánh chim, hình ảnh chòm mây cũng là hình ảnh rất ấn tượng. ”Chòm mây lẻ loi lững lờ trên tầng không” đó là hình ảnh một chòm mây cô lẻ “cô vân” đang trôi lững lờ “mạn mạn” giữa tầng không. Câu thơ này ở phần dịch thơ chưa đc bộc lộ hết ý, nghĩa của phần phiên âm: chữ “cô” chưa được diễn tả và hai chữ “mạn mạn” lại được dịch thành trôi nhẹ, ít nhiều đã làm giảm đi sắc thái biểu cảm của hình ảnh. Cũng vậy ”chòm mây lẻ” tuy gợi cảm tưởng đơn độc, buồn bã nhưng liền sau đó là ”trôi nhẹ” lại cho thấy chút gì ung dung, thanh thản, gợi cảm tưởng phóng khoáng và làm chủ hoàn cảnh. Hơn thế, chòm mây cũng như đang mang tâm trạng của con người cô đơn, lẻ loi và ẩn chứa nỗi buồn. Phải có 1 tâm hồn ung dung, thư thái thì người tù ms có thể tạm quên sự đau đớn của thể xác để theo dõi 1 cánh chim, 1 chòm mây giữa bầu trời lúc hoàng hôn như vậy. Đó là cảnh chiều tối nơi sơn dã. Hai câu thơ thấm thía nỗi buồn vì cảnh buồn và người buồn, vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây đơn độc lơ lửng trên k trung gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người, vì kb bh ng tù ms đc tự do như cánh chim và chòm mây kia?! Tuy vậy, vẻ đẹp cổ điển của 2 câu thơ trên cũng thể hiện bản lĩnh kiên cường của ng tù, bởi vì nếu k có ý chí, nghị lực và phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần của ng chiến sĩ thì ls có thể viết đc những câu thơ về thiên nhiên sâu sắc và tinh tế như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thân phận tù đày.

   Nếu như ở 2 câu thơ đầu bằng bút pháp cổ điển bác đã dựng bức phông lớn làm nền cho bức tranh, thì trong 2 câu thơ sau, bác tập trung làm nổi bật hình tượng trung tâm của bức tranh:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”(Cô em xóm núi xay ngô tối,Xay hết, lò than đã rực hồng.)

  Đó là bức tranh sinh hoạt của người dân xóm núi, qua đó còn bộc lộ tâm trạng của người tù. Đến đây, bỗng có nét chấm phá bất ngờ: giữa rừng núi, âm u, 1 lò lửa bỗng rực hồng, soi sáng h/ả thiếu nữ đang chuẩn bị bữa ăn tối cho gia đình. Nếu trong 2 câu thơ đầu, cảnh vật hiện ra qua những nét vẽ phần nào mang tính chất ước lệ thì ở 2 câu này, h/ả ng phụ nữ LĐ lại đc t/g miêu tả chân thực và sinh động. Tứ thơ có sự vận động bất ngờ, từ bức tranh thiên nhiên hướng về bức tranh sự sống của con người. Từ bút pháp cổ điển đã chuyển sang hẳn bút pháp hiện đại. H/ả ng phụ nữ LĐ đc gợi tả 1 cách sinh động, cụ thể. Điều lạ là những câu thơ tả thực gần như văn xuôi ấy lại có một sức sống lạ thường. Sức sống ấy toát lên từ h/ả trẻ trung, khỏe khoắn của cô gái xay ngô. Nhà thơ đã đặt con ng vào vị trí chủ thể, đẩy lùi cảnh vật ra phía sau làm nền. Khi ấy cs LĐ trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Nó đem lại cho ng tù hơi ấm của sự sống cùng niềm vui và hp trc cs bình dị của những con ng tuy vất vả mà tự do, làm dịu đi nỗi cô đơn để chia sẻ vs niềm vui nho nhỏ đời thường của ng dân LĐ. Lẽ ra h/ả này gợi lên c/s vất vả, nghèo nàn nhưng câu thơ liền sau đó nổi bật lên 1 màu rực rỡ của lò than rực hồng lại gợi 1 cảm giác vui tươi, nồng ấm và bình yên. Và đó cx là h/ả trung tâm của bức tranh thơ ”Chiều tối”. 2 câu thơ sử dụng điệp ngữ bắc cầu, tạo sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng càng hiện lên 1 cô gái chăm chỉ, cần mẫn vs công việc. Tiếp theo là h/ả ”lò than rực hồng” là chấm lửa đỏ mà ng nghệ sĩ tài hoa chấm lên bức tranh, mang lại thần sắc cho toàn cảnh, tăng thêm niềm vui, sức mạnh cho ng tù đang cất bước trên con đường dài. H/ả cô gái xay ngô tối và ”lò than rực hồng” gợi tả khoảnh khắc sum họp của GĐ. Thấp thoáng đâu đó là khát vọng thầm kín về cs tự do, về mái ấm gđ của con ng đang lưu lạc xa nhà, xa quê hương đất nc. Đó là tâm hồn của ng chiến sĩ CM đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm vs niềm vui đời thường. Bài thơ kết lại bằng chữ “hồng “chính là nhãn tự của bài thơ thu được cả linh hồn sức sống của toàn bài. Cả bức tranh bừng sáng bởi chữ”hồng”đó. Btho đã vận động từ ánh chiều âm u, tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui. Là 1 tù nhân đang trên đường bị áp giải, đói, mệt, cô độc,… mà vẽ đc bức tranh thơ trên, đủ thấy Chủ tịch HCM đúng là 1 ng có nhân cách vĩ đại có cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời, có bản lĩnh phi thường vs 1 tấm lòng nhân ái bao la và ty thương nhân dân. Ng sẵn sàng quên đi hoàn cảnh đau buồn của riêng mình để hòa vui vs nd và đồng loại, dù chỉ là 1 niềm vui đơn sơ, nhỏ bé của những con ng chưa hề quen biết nơi đất lạ trời xa.

   NT tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển ở chỗ bài thơ lấy đề tài về thiên nhiên,ở bút pháp chấm phá, ước lệ vs những thi liệu xưa cũ, lại vừa có nét hiện đại ở bút pháp tả thực sinh động vs h/ả dân dã đời thường. Lại chủ yếu là gợi tả cho nên rất cô đọng và hàm súc. Ngôn ngữ trong thơ đc sd rất linh hoạt và sáng tạo. Cảnh chiều tối miêu tả trong bài thơ tuy có đôi nét thoáng buồn, nhưng nhìn chung toàn bài toát lên 1 kk ấm áp, sinh động. Phải là 1 ng đầy bản lĩnh, chí khí, có tâm hồn khoáng đạt và lòng thương ng, yêu cảnh vật 1 cách thiết tha ms có tâm trạng như thế.

  Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Qua bức tranh về phong cảnh thiên nhiên, bức tranh con người nơi xóm núi khi chiều muộn ta thấy đc tâm tư, tình cảm, nghị lực và nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của người chiến sĩ cách mạng. Người làm thơ trong tình cảnh khốn khó nhưng vẫn để tâm hồn mình hướng tới thiên nhiên cùng niềm hp đơn sơ. Ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp: lòng nhân ái đạt đến độ quên mình, một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất. Từ đó cta có thể rút ra đc bài học: Mỗi ng cần rèn luyện cho mình 1 kĩ năng sống, nghị lực sống. Sống có ý chí, có ý thức vươn lên trong học tập, vượt qua thử thách trên trường đời để đi đến thành công

Hồ Chí Minh được nhân loại biết đến không chỉ là một vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam mà còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ lớn của thế kỷ XX. Người đã để lại cho đời một sự nghiệp thơ ca đáng trân trọng. Trong đó nổi bật nhất là tập thơ Nhật ký trong tù được viết từ 2/8/1942 đến 10/9/1943 khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, đầy đoạ khắp các nhà lao tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tập thơ này như một cuốn nhật ký bằng thơ ghi lại những chặng đường giải lao đầy gian nan vất vả ấy. Với bản lĩnh và tinh thần thép, Người đã vượt qua hoàn cảnh tù đày để hướng về ánh sáng. Bài thơ Chiều tối là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của tập Nhật ký trong tù. Đó là bài thơ thứ 31, cảm hứng của bài thơ ”Chiều tối” được gợi lên từ trên đường chuyển lao từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo vào cuối thu năm 1942.Cảnh chiều tối là một đề tài quen thuộc của văn chương, nó gợi tâm trạng, những cảm xúc miên man của con người. Nhưng Chiều tối này k giống như bất kì Chiều tối nào, HCM đã thể hiện lại một cách mới mẻ hơn cả. Như tên gọi, bài thơ cũng chỉ là một bức tranh vẽ cảnh hoàng hôn nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thế nhưng ẩn chứa trong đó là một ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình. Đó là cảnh chiều tối qua đôi mắt ng tù HCM ”tay bị trói, cổ đeo xích” đang bị lính áp giải ngang qua 1 vùng sơn dã. Ngày đã hết mà ng tù vẫn phải cất bước. Nhà giam mới còn xa, nỗi vất vả còn nhiều. Bài thơ hình thành trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy.Bài thơ mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên vào lúc chiều muộn..:Hai câu đầu đã tái hiện thời gian và không gian của buổi chiều tối ở chốn núi rừng nơi đất khách quê người. Thời gian hiện lên là một buổi chiều tối trong khung cảnh trời rộng lớn, bao la ở núi rừng buồn vắng giữa phút ngày tàn, mây lẻ loi trôi chầm chậm. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chim bay về tổ là biểu tượng quen thuộc đc dùng để diễn tả cảnh hoàng hôn thường thấy trong thơ cổ điển, nhưng cánh chim ở đây k chỉ là 1 nét vẽ bt. Cánh chim nhỏ nhoi, chòm mây cô độc, bầu trời bao la k giới hạn. Người xưa cho đó là cách lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh rất tinh vi. Cảnh núi rừng tĩnh lặng và cách chim nhỏ mệt mỏi đó đc khắc họa bằng những nét chấm phá cổ điển. Tuy chỉ hai câu thơ, k tả màu sắc, âm thanh, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh hiu…Ngoại cảnh cũng chính là tâm cảnh, đó là tâm trạng của người tù bị lưu đày. Dường như lúc chiều tối ng tù ngước mắt lên nhìn bầu trời, chợt thấy cánh chim mỏi mệt đang cố bay về tổ ấm và chòm mây chầm chậm trôi ngang lưng trời. Cái nhìn của nhà thơ k đơn thuần là cái nhìn thưởng thức mà còn gửi vào đó sự lưu luyến, trìu mến của 1 tấm lòng yêu thương vô hạn. Cánh chim nhỏ bé kia như có linh hồn, mang tâm trạng con người và có cả đời sống riêng. ”Chim mỏi” tuy gợi buồn thương nhưng về rừng tìm chốn ngủ liền sau đó lại có chút gì đó ấm áp. Cánh chim mỏi mệt, cả ngày kiếm ăn vất vả, chiều tối nó trở về rừng tìm nơi trú ngụ để sớm mai lại bay đi. Người tù cũng mỏi mệt sau 1 ngày vất vả lê bước đường trường mà vẫn không biết đâu là chặng nghỉ cuối cùng của một ngày. Như vậy có sự hòa hợp cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình yêu thương mênh mông, sự nhạy cảm tinh tế của Bác dành cho mọi sự sống trên đời. Chim về rừng gắn bó với hiện thực và sự sống, 1 quan niệm mới mẻ đã đc thể hiện rằng: cái đẹp ở ngay phía sự sống, trong chính cuộc sống này. Bên cạnh hình ảnh cánh chim, hình ảnh chòm mây cũng là hình ảnh rất ấn tượng. ”Chòm mây lẻ loi lững lờ trên tầng không” đó là hình ảnh một chòm mây cô lẻ “cô vân” đang trôi lững lờ “mạn mạn” giữa tầng không. Câu thơ này ở phần dịch thơ chưa đc bộc lộ hết ý, nghĩa của phần phiên âm: chữ “cô” chưa được diễn tả và hai chữ “mạn mạn” lại được dịch thành trôi nhẹ, ít nhiều đã làm giảm đi sắc thái biểu cảm của hình ảnh. Cũng vậy ”chòm mây lẻ” tuy gợi cảm tưởng đơn độc, buồn bã nhưng liền sau đó là ”trôi nhẹ” lại cho thấy chút gì ung dung, thanh thản, gợi cảm tưởng phóng khoáng và làm chủ hoàn cảnh. Hơn thế, chòm mây cũng như đang mang tâm trạng của con người cô đơn, lẻ loi và ẩn chứa nỗi buồn. Phải có 1 tâm hồn ung dung, thư thái thì người tù ms có thể tạm quên sự đau đớn của thể xác để theo dõi 1 cánh chim, 1 chòm mây giữa bầu trời lúc hoàng hôn như vậy. Đó là cảnh chiều tối nơi sơn dã. Hai câu thơ thấm thía nỗi buồn vì cảnh buồn và người buồn, vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây đơn độc lơ lửng trên k trung gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người, vì kb bh ng tù ms đc tự do như cánh chim và chòm mây kia?! Tuy vậy, vẻ đẹp cổ điển của 2 câu thơ trên cũng thể hiện bản lĩnh kiên cường của ng tù, bởi vì nếu k có ý chí, nghị lực và phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần của ng chiến sĩ thì ls có thể viết đc những câu thơ về thiên nhiên sâu sắc và tinh tế như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thân phận tù đày.Nếu như ở 2 câu thơ đầu bằng bút pháp cổ điển bác đã dựng bức phông lớn làm nền cho bức tranh, thì trong 2 câu thơ sau, bác tập trung làm nổi bật hình tượng trung tâm của bức tranh:Đó là bức tranh sinh hoạt của người dân xóm núi, qua đó còn bộc lộ tâm trạng của người tù. Đến đây, bỗng có nét chấm phá bất ngờ: giữa rừng núi, âm u, 1 lò lửa bỗng rực hồng, soi sáng h/ả thiếu nữ đang chuẩn bị bữa ăn tối cho gia đình. Nếu trong 2 câu thơ đầu, cảnh vật hiện ra qua những nét vẽ phần nào mang tính chất ước lệ thì ở 2 câu này, h/ả ng phụ nữ LĐ lại đc t/g miêu tả chân thực và sinh động. Tứ thơ có sự vận động bất ngờ, từ bức tranh thiên nhiên hướng về bức tranh sự sống của con người. Từ bút pháp cổ điển đã chuyển sang hẳn bút pháp hiện đại. H/ả ng phụ nữ LĐ đc gợi tả 1 cách sinh động, cụ thể. Điều lạ là những câu thơ tả thực gần như văn xuôi ấy lại có một sức sống lạ thường. Sức sống ấy toát lên từ h/ả trẻ trung, khỏe khoắn của cô gái xay ngô. Nhà thơ đã đặt con ng vào vị trí chủ thể, đẩy lùi cảnh vật ra phía sau làm nền. Khi ấy cs LĐ trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Nó đem lại cho ng tù hơi ấm của sự sống cùng niềm vui và hp trc cs bình dị của những con ng tuy vất vả mà tự do, làm dịu đi nỗi cô đơn để chia sẻ vs niềm vui nho nhỏ đời thường của ng dân LĐ. Lẽ ra h/ả này gợi lên c/s vất vả, nghèo nàn nhưng câu thơ liền sau đó nổi bật lên 1 màu rực rỡ của lò than rực hồng lại gợi 1 cảm giác vui tươi, nồng ấm và bình yên. Và đó cx là h/ả trung tâm của bức tranh thơ ”Chiều tối”. 2 câu thơ sử dụng điệp ngữ bắc cầu, tạo sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng càng hiện lên 1 cô gái chăm chỉ, cần mẫn vs công việc. Tiếp theo là h/ả ”lò than rực hồng” là chấm lửa đỏ mà ng nghệ sĩ tài hoa chấm lên bức tranh, mang lại thần sắc cho toàn cảnh, tăng thêm niềm vui, sức mạnh cho ng tù đang cất bước trên con đường dài. H/ả cô gái xay ngô tối và ”lò than rực hồng” gợi tả khoảnh khắc sum họp của GĐ. Thấp thoáng đâu đó là khát vọng thầm kín về cs tự do, về mái ấm gđ của con ng đang lưu lạc xa nhà, xa quê hương đất nc. Đó là tâm hồn của ng chiến sĩ CM đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm vs niềm vui đời thường. Bài thơ kết lại bằng chữ “hồng “chính là nhãn tự của bài thơ thu được cả linh hồn sức sống của toàn bài. Cả bức tranh bừng sáng bởi chữ”hồng”đó. Btho đã vận động từ ánh chiều âm u, tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui. Là 1 tù nhân đang trên đường bị áp giải, đói, mệt, cô độc,… mà vẽ đc bức tranh thơ trên, đủ thấy Chủ tịch HCM đúng là 1 ng có nhân cách vĩ đại có cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời, có bản lĩnh phi thường vs 1 tấm lòng nhân ái bao la và ty thương nhân dân. Ng sẵn sàng quên đi hoàn cảnh đau buồn của riêng mình để hòa vui vs nd và đồng loại, dù chỉ là 1 niềm vui đơn sơ, nhỏ bé của những con ng chưa hề quen biết nơi đất lạ trời chúng tôi tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển ở chỗ bài thơ lấy đề tài về thiên nhiên,ở bút pháp chấm phá, ước lệ vs những thi liệu xưa cũ, lại vừa có nét hiện đại ở bút pháp tả thực sinh động vs h/ả dân dã đời thường. Lại chủ yếu là gợi tả cho nên rất cô đọng và hàm súc. Ngôn ngữ trong thơ đc sd rất linh hoạt và sáng tạo. Cảnh chiều tối miêu tả trong bài thơ tuy có đôi nét thoáng buồn, nhưng nhìn chung toàn bài toát lên 1 kk ấm áp, sinh động. Phải là 1 ng đầy bản lĩnh, chí khí, có tâm hồn khoáng đạt và lòng thương ng, yêu cảnh vật 1 cách thiết tha ms có tâm trạng như thế.Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Qua bức tranh về phong cảnh thiên nhiên, bức tranh con người nơi xóm núi khi chiều muộn ta thấy đc tâm tư, tình cảm, nghị lực và nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của người chiến sĩ cách mạng. Người làm thơ trong tình cảnh khốn khó nhưng vẫn để tâm hồn mình hướng tới thiên nhiên cùng niềm hp đơn sơ. Ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp: lòng nhân ái đạt đến độ quên mình, một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất. Từ đó cta có thể rút ra đc bài học: Mỗi ng cần rèn luyện cho mình 1 kĩ năng sống, nghị lực sống. Sống có ý chí, có ý thức vươn lên trong học tập, vượt qua thử thách trên trường đời để đi đến thành công

   

[Văn/11] Phân tích ”Chiều tối” – Hồ Chí Minh

Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:

Bạn không có quyền trả lời bài viết

Quách Như Thảo :: Góc học tập :: Ngữ văn Quách Như Thảo :: Góc học tập :: Ngữ văn

Chuyển đến:  

Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối Của Hồ Chí Minh / 2023

Bài làm

Hồ Chí Minh là một cái tên mà tất cả con dân Việt Nam đều ghi tạc trong tim với một lòng yêu quý, kính trọng vô bờ bến. Trong quá trình tìm lại tự do cho dân tộc, Bác đã phải chịu rất nhiều khổ cực, gian khó, đã rất nhiều lần bị bắt giam, chuyển từ nhà tù này sang nhà tù khác, bị đánh đập, tra tấn dã man. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ở Người vẫn ánh lên một tinh thần lạc quan, một niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Bài thơ “Chiều tối” nằm trong tập thơ “Nhật kí trong tù” đã thể hiện được phần nào tinh thần ấy của Người. Bài thơ chỉ đơn giản là tả lại cảnh nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thế nhưng ẩn chứa trong đó là một ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình.

Bài thơ được sáng tác khi Bác bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bức tranh chiều tối được nhìn qua cặp mắt của người tù tay đeo gông chân vướng xiềng : “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không.”

Dịch thơ:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.”

Buổi chiều thường là lúc đoàn tụ, nhưng cũng là khi con người ta thấy vô cùng cô đơn nếu không có một chốn để về. Cánh chim mỏi sau một ngày kiếm ăn cũng đã bay về tổ của mình. Trên không trung chỉ còn lững lờ một chòm mây. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chòm mây ấy cũng giống như Bác, đang trong tình cảnh tù tội, vẫn phải cô độc bước đi. Chòm mây cô đơn, lặng lẽ, Bác cũng lặng lẽ, cô đơn. Tuy thế, phải là một người có lòng yêu thiên nhiên, phải có một tâm thái ung dung, bình tĩnh, lạc quan, vượt lên mọi gông cùm về thể xác để ngắm thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên như thế. Thân xác mỏi rã rời vì phải đi cả ngày đường vất vả, nhưng Bác vẫn dõi mắt theo cánh chim về tổ, tầng mây lững lờ trôi lúc chiều về.

Tuy chỉ hai câu thơ bảy chữ, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh quẽ. Đồng thời, cũng nói lên niềm mong ước quay trở về với quê hương, ước mong được tự do như đám mây kia.

Trong khung cảnh thiên nhiên mênh mông, đượm nét buồn lúc chiều muộn nơi rừng núi, bỗng xuất hiện con người:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”

Dịch thơ:

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Giữa cảnh buồn của thiên nhiên như trong thơ cổ, cô sơn nữ hiện lên như một điểm sáng, làm cho cả bức tranh trở nên sinh động, vui tươi hơn. Đó chính là nét cố điển mà hiện đại trong thơ của Hồ Chí Minh. Bức tranh vừa có người, vừa có hoạt động khỏe khoắn của con người trong đó. Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Cô gái đang miệt mài xay ngô bên lò than rực hồng để chuẩn bị bữa tối. Ở đây, bản dịch thơ không đảm bảo được nghệ thuật của bản chữ Hán. Bác đã lặp lại hai chữ “bao túc” ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư, như những vòng xay nối tiếp nhau của cô gái, như sự tuần hoàn của thời gian, trời đã tối, tối dần. Bức tranh vừa ấm áp bởi cảnh tượng lao động khỏe khoắn của người thôn nữ lao động, vừa bởi cái ánh hồng của bếp lò. Đó chỉ là một thứ hạnh phúc bình dị, vậy mà Bác vẫn gạt bỏ hết những đau đớn, mệt mỏi về thân xác để cảm nhận được.

Nhà văn Nam Cao đã viết: “Khi người ta đau chân, người ta không còn tâm trí đâu để nghĩ đến người khác được.”, để nói rằng, con người ta thường có xu hướng lo cho những đau khổ của bản thân. Thế nhưng, ở Bác Hồ – một người lúc nào cũng lo nỗi lo của dân tộc, của đất nước – vậy mà cũng vẫn luôn quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt nhất, bình dị nhất. Đó chính là nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta.

Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ chỉ đơn giản là tả về phong cảnh thiên nhiên và con người nơi xóm núi khi chiều muộn, đồng thời, cũng ẩn chứa trong đó nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của Người. Đồng thời, ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp của tinh thần quên mình, của một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất.

Từ khóa tìm kiếm:

phân tích bài thơ chiều tối (5065)

phan tich bai chieu toi (1996)

phan tich bai tho chieu toi cua ho chi minh (1916)

Phan tich chieu toi (1303)

chieu toi (599)

phân tích bài thơ chiều tối (534)

phan tich bai tho chieu toi lop 11 (425)

chieu toi ho chi minh (330)

bai tho chieu toi (315)

Phan tich bai chieu toi cua ho chi minh (287)