Top 17 # Xuất Xứ Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Về Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà / 2023

(1)

– Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh thì “không ít học giả nổi tiếng trong công trình khoa học của mình vẫn khẳng định: bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt” như Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử …

– Tuy nhiên Giáo sư Hà Văn Tấn đã đặt lại vấn đề rằng “không có một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả”

– Tác giả Viên Như cho rằng Nam Quốc Sơn Hà là tác phẩm của Thiền sư Không Lộ (1016 – 1094) sau khi “đặc biệt tìm hiểu về bài Ngôn Hoài từ đó đem so sánh với bài NQSH để thấy những mối tương đồng giữa hai bài thơ”

(2)

– Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh thì tác giả Bùi Duy Tân “đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học để khẳng định bài thơ Nam quốc sơn hà là khuyết danh, không phải của Lý Thường Kiệt”

(3)

– Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà có từ bao giờ của tác giả Đinh Ngọc Thu. Tác giả dựa vào 2 chữ Thiên Thư mà cho rằng “bài thơ trên chỉ có thể xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt đánh Tống bên sông Như Nguyệt đầu năm 1077 mà thôi”.

– Bàn về hai chữ “Thiên thư” trong bài Nam quốc sơn hà của tác giả Lê Văn Quán.

– Cần dịch lại bài thơ Nam quốc sơn hà của tác giả Nguyễn Hùng Vĩ

– Bàn lại cách dịch bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng

– Vài điều cần trao đổi thêm về bài Nam Quốc Sơn Hà của tác giả Nguyễn Khắc Phi

– Phát hiện tiền thân bài “Nam quốc sơn hà” của ký giả Vũ Kim Biên

– Và còn rất nhiều nữa (xin xem một phần trong hình 2)

(4)

– Bộ chính sử thời Lê là Đại Việt sử kí toàn thư chép bài thơ tại mục năm bính thìn (1076)

– Lĩnh Nam chích quái chép bài thơ trong truyện Long Nhãn Như Nguyệt nhị thần truyện

– Việt điện u linh chép bài thơ trong truyện Trương Hống Trương Hát (Khước địch thiên hựu trợ thuận đại vương, Uy địch dũng cảm hiển thắng đại vương)

4.2 Bài thơ thời Lê Đại Hành

Tác giả Nguyễn Thị Oanh nhận định rằng “Theo chúng tôi, có thể ban đầu VĐUL đã chép truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát gắn với vua Lê Đại Hành và công cuộc chống giặc Tống xâm lược theo đúng hào khí lịch sử thời bấy giờ, nhưng về sau do quan điểm Nho giáo, coi trọng chính thống như đã phân tích trên, người biên soạn có thể đã thay đổi nội dung của truyền thuyết. Khi đã thay đổi nội dung của truyền thuyết, thì bài thơ vốn có trong truyền thuyết sẽ gắn cho nhân vật lịch sử nào ? Không phải vua Ngô Nam Tấn bởi vua Nam Tấn không đánh giặc ngoại xâm. Lý Thường Kiệt, vị anh hùng dân tộc đã đánh tan quân Tống trên sông Như Nguyệt có lẽ là người xứng đáng nhất để thần hiển hiện đọc bài thơ cổ vũ binh sĩ”

4.3 Bàn luận

– 1 là Việt điện u linh có các dị bản ít thay đổi, như chính tác giả đã thừa nhận “các dị bản của sách VĐUL, chúng tôi thấy không có sự khác nhau giữa chúng”

– 2 là Lĩnh Nam chích quái có các dị bản rất khác nhau, cụ thể: bản A.2914 cho biết ae họ Trương là ng thời Ngô, ko qui thuận họ Đinh, nên phải uống thuốc độc tự tử; trong khi bản A.33 lại cho biết ae họ Trương là bộ tướng của Triệu Việt Vương, ko qui thuận Lí Nam Đế, nên phải uống thuốc độc tự tử

* So sánh cốt truyện của Việt điện u linh và 2 bản của Lĩnh Nam chích quái thì ng viết xếp làm 3 nhóm:

+ Nhóm 1 là Việt điện u linh: ae họ Trương là bộ tướng của Triệu Việt Vương, bị Lí Nam Đế ép chết, sau hiển linh giúp Ngô vương Quyền và Nam Tấn vương Ngô Xương Văn

+ Nhóm 2 là Lĩnh Nam chích quái 3: ae họ Trương là bộ tướng của Triệu Việt Vương, bị Lí Nam Đế ép chết, sau hiển linh giúp Đại Hành hoàng đế Lê Hoàn

+ Nhóm 3 là Lĩnh Nam chích quái 4: ae họ Trương là bộ tướng của Ngô vương Quyền, bị Đinh Tiên Hoàng ép chết, sau hiển linh giúp Đại Hành hoàng đế Lê Hoàn

– 4 là chúng ta thấy nhóm 1 có đầy đủ các yếu tố để tạo nên nhóm 2 và nhóm 3, cụ thể với yếu tố thân thế là bộ tướng của Triệu Việt vương thì nhóm 1 có thể kiến tạo nên nhóm 2 và với yếu tố hiển linh giúp Ngô vương Quyền thì nhóm 1 có thể kiến tạo nên nhóm 3; Nhưng chỉ từ nhóm 2 hoặc nhóm 3 riêng lẻ ko đủ yếu tố để kiến tạo nên nhóm 1, cụ thể nhóm 2 thiếu yếu tố Ngô vương Quyền, trong khi nhóm 3 thiếu yếu tố Triệu Việt vương.

(nôm na như kiểu Lão Ngoan Đồng chia bộ Cửu âm chân kinh làm quyển thượng và quyện hạ)

– 5 là Việt điện u linh cho thấy nó được soạn dựa trên 1 tài liệu cổ hơn nó là Sử kí của Đỗ Thiện, chỗ này ng viết xin dẫn lời nhận xét của dịch giả Lê Hữu Mục (để cho khách quan) như sau “Lý Tế Xuyên cho ta biết rõ ràng rằng chuyện Sĩ Nhiếp của ông là do hai nguồn tài liệu tạo nên; sự thẳng thắn ấy làm cho chúng ta không hoài nghi sự trung thực của ông (…) Chính giáo sư Durand rất khe khắt với Lý Tế Xuyên cũng đã công nhận bản văn của tác giả là bản Ngô Chí được sao lại và biến chế thay đổi đi, như thế ta có thể thẳng thắn công nhận rằng Lý Tế Xuyên đã sáng tác trong khuôn khổ của bản Ngô Chí, đã triệt để tôn trọng tài liệu và chỉ thêm bớt khi nào cảm thấy cần thiết”.

+ rõ ràng sự trung thực của tác giả sách Việt điện u linh được đánh giá rất cao

+ và sách ấy lại dẫn 1 tài liệu sử, có trước đó, thì hẳn là mọi sự đã rõ

* Như vậy chúng ta có thể khẳng định: ae họ Trương được cho là bộ tướng của Triệu Việt Vương và bị Lí Nam Đế ép chết, sau hiển linh giúp Ngô Tiên Chúa và Nam Tấn Vương.

4.4 Tồn nghi

– Lại thêm, nhiều tác giả cho rằng Đỗ Thiện làm quan cuối triều Nhân Tông và đầu triều Thần Tông, nếu đúng thì về mặt thời gian, ko có mâu thuẫn.

* Với tất cả những điểm đã bàn ở trên thì rõ ràng ghi chép của Việt điện u linh là đáng tin cậy hơn Lĩnh Nam chích quái và hẳn nhiên giả thuyết bài thơ Nam Quốc Sơn Hà gắn với cuộc kháng chiến chống Tống bên bờ sông Như Nguyệt là xác tín hơn.

– Tuy nhiên ở trên chúng ta mới chỉ đang bàn xem giữa Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái thì sách nào ghi chép đáng tin cậy hơn, chứ chưa bàn tới việc liệu rằng ghi chép của Sử kí có đáng tin cậy hay ko, nói cách khác bài thơ Nam Quốc Sơn Hà gắn với cuộc kháng Tống của Thường Kiệt là đáng tin hơn đấy, nhưng đã phải là sự thực chưa ?

* Người viết xin dẫn 1 bài thơ của Tập Hiền Học Sĩ Hà Đông Tống Bột được Lê Tắc chép trong An Nam chí lược như sau:

Bể Nam người Việt tự làm ăn (Sông núi nước Nam vua Nam ở)

Vốn chẳng phiền chi đến sứ thần (Sách trời định phận đã rõ ràng)

Linh thú hai ban đều bãi bỏ (Cớ sao giặc dữ dám xâm phạm)

Hán triều nhân hậu có vua Văn (Chờ đấy loài bây sẽ nát tan)

(hí hí, những bài kiểu này, mọi ng thông cảm, muốn kết lắm, mà ko kết nổi, nhân chuyện thơ văn, bữa sau em nói chuyện nguồn gốc thơ lục bát để hầu các bác)

Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư / 2023

Sách là một kho tàng tri thức nhân lọai mà người xưa để lại cho muôn đời sau. Ông cha ta ngàn năm trước, khi lập quốc, việc viết sách không chỉ là để lại cho con cháu mà còn xem như là “Thiên thư”, khẳng định chủ quyền của quốc gia,cùng những báu vật do Trời Đất ban tặng, để mãi mãi cháu con theo đó mà xây dựng, bảo vệ và giữ gìn bờ cõi trường tồn vững mạnh.

Mỗi khi mùa xuân tới, một năm mới bắt đầu, ở trong sâu thẳm những tâm hồn người Việt đều hướng về nguồn cội, tổ tiên, ông bà… cõi linh thiêng không có gì sánh được, để tự hào được mang trong mình dòng máu Hùng Vương, và hai tiếng Việt Nam. Việt Nam, ngàn năm trước đã hiên ngang ngẩng đầu xưng với thiên hạ là quốc gia Đại Cồ Việt, đã khẳng định với 4 phương : quốc sơn hà Nam Đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư… “Thiên thư”- sách Trời hay chính nét bút kỳ tài của ông cha ngàn xưa đã vẽ hình đất nước bằng cả máu, mồ hôi, nước mắt, làm nên một dải đất cong cong hình chữ ” S ” trải dài từ Bắc xuống Nam. Từ nét chấm đầu tiên ở Mũi Sa Vĩ, Trà Cổ, Quảng Ninh đến nét bút “mở” nơi Đất Mũi, Cà Mau hướng về phương Nam, trải qua bao thăng trầm thuở khai thiên lập địa, cùng bao cuộc chinh chiến giữ chủ quyền, đất nước Việt tuy nhỏ bé nhưng kiên cường bên bờ sóng gió Biển Đông, vững chãi, không một thế lực to lớn nào có thể khuất phục, chia cắt, dời đổi.

Sau khi dời đô về Thăng Long, triều chính ổn định, các quyết sách về kinh tế, giáo dục cũng đã được ban bố và thi hành, cuộc sống của người dân đã đi vào nề nếp, Vua Lý Nhân Tông nhận thấy sự cần thiết phải vẽ địa đồ sông núi quốc gia. Năm 1075, nhà vua đã sai Quan Thái úy Lý Thường Kiệt vẽ địa hình 3 châu Ma Linh, Địa Lý và Bố Chính, đổi tên thành Minh linh, Lâm Bình, Bố Chính. Năm 1172 Vua Lý Anh Tông đi du ngọan để ” xem sơn xuyên hiểm trở, đường xá xa gần và sự sinh họat của dân gian”, rồi sai các quan làm quyển địa đồ của nước chúng tôi như trong ghi chép của Lê Quý Đôn thì cuốn sách đó mang tên:Nam Bắc phiên giới địa đồ, đánh dấu việc chủ quyền quốc gia ” sông núi nước Nam vua Nam ở, dĩ nhiên được phân định bởi sách trời “. Có thể đây là quyển sách đầu tiên ông cha vẽ hình đất nước, nhưng ngày nay đã không còn.

Trải qua suốt thời Trần, có lẽ vì phải vừa xây dựng triều chính củng cố thế lực sau khi nhà Lý nhường ngôi vua, vừa phải liên tiếp lo luyện binh để đánh lại và chiến thắng 3 lần quân xâm lược Nguyên- Mông, giữ vững quốc gia sống trong hòa bình, an nguyên bờ cõi… nên việc làm sách địa lý không được chú trọng. Gần như không có quyển nào.

Tới đời Lê, năm 1435, quan Hành Khiển Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai viết quyển địa dư đầu tiên nước ta lấy tên , chuyên khảo về địa dư nước Nam, lược khảo địa dư, chính trị các triều đại trước thời vua Lê Thái Tổ, chép phần Lê sơ, kể rõ các địa phương hình thế sông núi, sản vật, liệt kê các phủ, huyện, châu, xã… Ông dâng lên Vua Lê Thái Tông, vua sai Nguyễn Thiên Túng làm thời tập chú, Nguyễn Thiên Tích làm lời cẩn án, Lý Tử Tấn làm lời thông luận. Sau vua Lê Thái Tông cho in vào bộ Quốc thư bảo huấn đại tòan. Đây là cuốn sách địa lý xưa nhất còn lại cho chúng ta hôm nay.Năm 1490, tức năm Hồng Đức 21, vua Lê Thánh Tông sai làm sách Thiên hạ bản đồ, người ta căn cứ vào quyển này mà sọan ra Hồng Đức bản đồ vào thế kỷ 17, đặc biệt có cả bản đồ Chúa Trịnh Sâm đem quân đi đánh Thuận Quảng( Trung Quốc). Đầu thế kỷ 18 vào năm Bảo Thái thứ 4, vua Lê Dụ Tông sai định lại biên giới các châu, huyện, viết thành sách Tân Định bản đồ. Tới cuối đời vua Lê Hiển Tông, Dương Nhữ Ngọc, người Lạc Đạo, Gia Lâm viết một quyển địa lý học Việt Nam có tên Thiên Nam lộ đồ thư. Thời Lê Trung hưng có Ngô Thì Sĩ(1726-1784) đậu tiến sĩ 1766 năm Lê Cảnh Hưng 27, ông viết Hải Dương chí lược, chuyên khảo về lịch sử, địa lý và nhân tài của Hải Dương. Cuối thế kỷ 18, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Nhiễm, Nguyễn Tôn Quải sọan Nam quốc vũ cống. Cũng ở thế kỷ 18, Lê Quý Đôn, nhà bác học thông kim bác cổ thời đó sọan nhiều sách về kinh truyện, cổ thư, thơ văn, đặc biệt là sử ký và địa lý như Đại Việt thông sử (có các nước láng giềng), Phủ biên tạp lục ,gồm 6 quyển bao gồm các nội dung:danh nhân, thi văn, thổ sản, phong tục… liệt kê tên các phủ, huyện, xã, núi sông, thành trì, đường xá và các cách thức canh tác ruộng đất, thi hành thuế khóa…Ông còn có quyển Kiến văn tiểu lục có đề cập đến biên giới lãnh thổ bờ cõi nước ta.

Dưới triều Tây Sơn, có một số sách viết về địa chí Việt Nam như Cảnh Thịnh tân đồ, Mục mã trấn doanh đồ, Cao Bằng phủ tòan đồ. Đầu thế kỷ 19 có ông Phạm Đình Hổ viết rất nhiều sách về địa chí như An Nam chí, Ô châu lục, Kiền khôn nhất lãm, trích sao các bộ Nhất thống chí đời Thanh và bản đồ đường đi ở nước Nam,Ai Lao sứ trình về đường đi sứ Ai Lao. Nhưng bộ sách chính của ông và có giá trị nhất là Vũ trung tùy bút, gòm 2 quyển khảo cứu về địa lý, phong thổ, phong tục tập quán, văn hóa , thắng cảnh và các danh nhân, tài nhân. Ngòai ra Phạm Đình Hổ cùng với ông Nguyễn Án, người Bắc Ninh viết Tang thương ngẫu lục, kể về danh nhân, thắng cảnh, di tích nước Việt. Đây là những cuốn sách quý về địa lý Việt Nam của thời Lê, cho ta biết được diện mạo và phong thổ của người Việt lúc bấy giờ.

Đến thời Nguyễn, bắt đầu từ vua Gia Long, việc biên sọan khảo cứu về địa chí nước ta mới thật sự được chú trọng, sách được viết nhiều và có giá trị cao mang tính chất “quốc thư” chính thức.Vua Gia Long lệnh cho quan Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định sọan bộ Nhất thống địa dư chí, gồm 11 quyển, từ quyển 1-4 tả đường bộ từ Húế vào đến Trấn Biên- Biên Hòa,từ Huế đến Lạng Sơn, đường thủy từ Gia Định- Sài Gòn đến Vĩnh Long- Lục tỉnh. Từ quyển 5-10 chép các Trấn, Doanh, Dinh, Cương giới, phong tục, thổ sản, các phủ huyện châu, đường lộ…Sang tới đời vua Minh Mạng, ông Phan Huy Chú sọan bộ , một phần quan trọng của bộ Lịch triều hiến chương lọai chí . Bộ sách này là cuốn Bác khoa tòan thư đầu tiên của Việt Nam từ thời cổ cho tới lúc đó, gồm 49 quyển, 5 quyển đầu là nói về địa chí, bờ cõi, phong thổ. Ngòai ra ông còn viết Hòang Việt địa dư chí ,phác họa bản đồ Đại Nam nhất thống tòan đồ vào năm 1834, đặc biệt trong bản đồ này vẽ rất rõ hình thể sông núi, duyên hải, đồng bằng… và có cả quần đảo Hòang Sa, Trường Sa.Ở phía Bắc còn có bộ Bắc thành địa dư chí, viết về thành Thăng Long và 11 Trấn ở phía Bắc gồm các mục cương giới, phân cách phân hạt hình thể, khí hậu, thổ sản…, và cuốn Phương đình địa chí lọai của Nguyễn Văn Siêu gồm 5 quyển chép địa lý nước Nam thời Hậu Lê, thời Nguyễn và các sách của Trung Quốc viết về Việt Nam. Sang tới đời Thiệu Trị, năm 1841,vua sai viết Đại Nam thống chí, một quyển địa lý học sơ lược của nước ta. Đến đời Tự Đức, vua sai Quốc sử quán sọan bộ Đại Nam nhất thống chí , trong suốt 17 năm từ 1865-1882 mới hòan thành. Đây là bộ sách đầy đủ nhất, viết có phân chia rõ ràng nhất theo từng địa phương, tỉnh… gồm cương giới, sự thay đổi tên gọi, các phủ huyện châu, hình thế, khí hậu, thành trì, dân số, hộ khẩu, ruộng đất, sông núi, hồ đầm, lăng mộ, đền, đình, chùa , miếu, cửa biển, nhà trạm, đường cái, bến đò, cầu cống đê điều, phố chợ, thổ sản, nhân vật lịch sử , thánh nhân…Cuốn sách này còn có rất nhiều tài liệu về sử học, kinh tế, chính trị, văn học nghệ thuật của nước nam, giới thiệu các xứ Cao Miên, Xiêm La, Miến Điện, Vạn Tượng, Nam Dương.Đến đời vua đồng khánh, năm 1886, Hòang Hữu Xứng theo lệnh triều đình sọan xong bộ Đại Nam quốc cương giới vựng biên có rất nhiều bản đồ địa hình nước Việt Nam. Sau đó Quốc sử quán sọan tiếp bộ Đồng Khánh địa dư chí chi tiết hơn về đồ hình nước ta.

Ngòai những cuốn sách do Vua ban lệnh viết, như một lọai “quốc thư”- sách quốc gia, còn có một số sách của các tiến sĩ, tú tài khoa bảng của các đời vua viết như dạng sách để nghiên cứu và cho dân gian biết về non sông gấm vóc đất Việt. An nam chí lược của Lê tắc thời vua Lê Thánh Tông, Tỏan tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư sọan vào cuối thế kỷ 17, Việt dư thặng chí tòan biên của Lý Trần Tấn đời vua Gia Long,Thối thực ký văn của Trương Quốc Dung đời vua Minh Mạng. Hay cuốn Việt sử địa dư của Phan Đình Phùng, Đại Việt cổ kim duyên cách địa chí của Nguyễn Thụy Trân, Tân đính Nam quốc địa dư giáo khoa thư , Nam quốc địa dư chí của Lương Trúc Đàm….

Những cuốn sách địa dư, địa chí khẳng định sự tồn tại và chủ quyền của một quốc gia có lãnh thổ, có biên cương, không một ai có thể thay đổi. Ông cha xưa không chỉ lập quốc, kiến tạo, mở mang bờ cõi, chiến đấu giữ gìn lãnh thổ mà còn làm nên những kỳ tích cho con cháu muôn đời có được những di sản quý báu , đó chính là những nét bút kỳ diệu của ông cha ta vẽ hình đất nước để lại con cháu. Đó cũng chính là những thông điệp thời gian để nhắc nhở những thế hệ người Việt Nam hãy giữ truyền thống của cha ông, tiếp nối vào nét bút để cho nước Việt càng thêm tươi đẹp, thêm giàu mạnh và trường tồn.

Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi. Ông cha đã vẽ hình đất nước cho ta có được một dải chữ ” S ” Việt Nam thiêng liêng bất khả xâm phạm bên bờ biển Đông. Sang năm mới, đốt nén hương trầm, tâm vọng về tổ tiên nguồn cội, để tự hào, để nguyện tiếp nối ông cha, để Tổ quốc Việt Nam muôn đời trường tồn./.

Hòai Hương

Bài 3: Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư / 2023

Bị giáng chức “đày” ra Nghệ An, Lý Đạo Thành lập Viện Địa tạng trong thờ tượng Phật và vị hiệu vua Lý Thánh Tông.

Xưa nay, ngẫm lịch sử: Cứ mỗi khi nội bộ triều chính của nước ta “bất hòa” thì mối nguy họa ngoại xâm phương Bắc là điều rất dễ xảy ra. Vào thời điểm những năm sau 1072 này, nhà Tống quyết định thôn tính nước ta vì mấy nguyên nhân sau: Thứ nhất, việc mất đoàn kết trong triều đình nhà Lý khiến thế nước suy giảm. Thứ hai, nhà Tống lo ngại việc thay đổi “nhân sự” trong triều đình Đại Việt sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của họ. Và điều thứ ba còn quan trọng nữa: Tháng 2 năm 1075, nước Liêu đe dọa biên giới phía Bắc nước Tống. Liệu thế không cự nổi, Tể tướng Vương An Thạch hiến kế với vua Tống cắt 700 dặm đất Hà Đông biếu nước Liêu để hòa hoãn, tiếp đó, tập trung binh lực đánh Đại Việt để tăng cường thế mạnh áp đảo lại nước Liêu. Đó cũng là kế sách đẩy mâu thuẫn từ bên trong ra bên ngoài của Vương An Thạch khi bị các phe phái khác trong triều công kích… Trước khi động binh, nhà Tống “xúi giục” Chiêm Thành quấy nhiễu phía Nam nước ta.

Trước tình cảnh này, Thái hậu Ỷ Lan và Thái úy Lý Thường Kiệt đã làm được một điều vĩ đại mà ít người nhắc đến: Hòa hợp phe phái, đoàn kết nhân tâm cùng nhau bàn cách chống họa ngoại xâm.

Thái úy Lý Thường Kiệt nhận mệnh vua đích thân vào Nghệ An phong chức Thái Phó, Bình chương quân quốc trọng sự cho Lý Đạo Thành và mời ông trở lại kinh đô. Chức quan này của Lý Đạo Thành trông coi tất cả việc triều chính trong nước. Còn với Lý Thường Kiệt, ông nắm quân đội lo việc đối phó với giặc ngoại xâm.

Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà – Được coi là Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt

Gạt bỏ thù hận, Thái Phó Lý Đạo Thành mạnh dạn “đề xuất” nhiếp chính Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông thực hiện việc tuyển chọn hiền tài giúp nước. Đây cũng là thực hiện tiếp nguyện ước còn dang dở của ông với vua Lý Thánh Tông từ năm 1070 khi lập Văn Miếu. Năm 1075, ở kỳ thi Nho học đầu tiên của dân tộc đã tuyển được mười người hiền tài nhất, trong đó Lê Văn Thịnh là người đỗ đầu và được giao việc giúp Vua học. Chỉ chưa đầy một năm sau, khi ngọn lửa chiến tranh bắt đầu, Lê Văn Thịnh được Vua tin tưởng phong ngay chức Binh bộ Thị lang (tương đương Thứ trưởng Bộ Quốc phòng bây giờ). Như thế, bên cạnh vị võ tướng kiệt xuất có vị quân sư văn lược tinh thông.

Lịch sử nước ta từ cổ chí kim thường chống giặc ở tư thế tự vệ khi địch đã xâm phạm bờ cõi. Duy chỉ có Lý Thường Kiệt dám nghĩ tới việc “Tiên phát chế nhân”, ông khẳng khái tâu Vua: “Ngồi im đợi giặc không bằng chủ động đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc”.

Phán đoán quân Tống vào đánh nước ta qua hai đường chính: Đường bộ từ Ung Châu và đường thủy từ cửa bể Khâm, Liêm, Thái úy Lý Thường Kiệt chủ động tấn công trước. Từ Vĩnh An (Hải Ninh, Móng Cái, Quảng Ninh), đại quân đường thủy do Thái úy Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy đánh vào ven biển Quảng Đông. Cánh quân bộ từ biên giới miền Quảng Nguyên kéo sang đánh Tống ở vùng Quảng Tây do Nùng Tôn Đản quản lĩnh. Vùng Môn Châu có Hoàng Kim Mãn thống lĩnh, vùng Lạng Châu có phò mã Thân Cảnh Phúc và vùng Tô Mậu do Vi Thủ An cầm quân. Hành quân táo bạo, bất ngờ, thêm mưu lược tài tình, quân đội nhà Lý mau chóng phá tan các cứ điểm xung yếu chứa lương thực, vũ khí. Đại quân do Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy chỉ trong 7 ngày là đã tới vây thành Ung Châu (Nam Ninh, Trung Quốc). Để tránh xung đột với dân Tống và bất lợi về lương thực, Lý Thường Kiệt đã tìm một danh nghĩa cho cuộc tiến công. Ông yết bảng “Phạt Tống lộ bố văn” kể tội quân Tống, nêu cao đại nghĩa tự thủ chủ quyền và giúp dân Tống chống lại phép Thanh Miêu, Trợ dịch hà khắc của triều đình nhà Tống. Người dân Tống đọc lời lộ bố vui mừng đem lương thực tới giúp quân đội nhà Lý… Với chất lượng vũ khí hơn hẳn nhà Tống cộng với mưu lược tài trí, chỉ trong 42 ngày đêm công kích, thành Ung Châu kiên cố đã thất thủ. Đại quân nhà Lý thừa thắng kéo tiếp lên phía Bắc phá thành Tân Châu rồi mau chóng kéo quân về, trước khi quân nhà Tống đang ồ ạt kéo xuống.

Sau gần một năm khắc phục thiệt hại, quân đội nhà Tống do Nguyên soái Quách Quỳ và Triệu Tiết (Phó Nguyên soái) chỉ huy tiến đánh Đại Việt. Đó là tháng 11 năm Bính Thìn (1076).

Quân Tống đổ dồn tụ tập trước phòng tuyến từ địa phận Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng (Bắc Giang) với chiều dài khoảng 30 km. Do lực lượng địch áp đảo, cũng có lúc phòng tuyến tưởng chừng khó giữ, nhưng bằng quyết tâm sắt đá, phòng tuyến luôn luôn được củng cố. Trong một lần tập kích sang trại giặc, hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn cùng hơn 500 quân ta tử trận. Thế giằng co tới mùa hè năm sau. Thời tiết nóng nực khiến quân Tống mỏi mệt, bệnh tật lan tràn, tinh thần suy sụp còn lương thực sắp cạn. Quân tướng Tống tiến thoái lưỡng nan.

Thời cơ phản công đã đến. Vào một đêm, từ đại bản doanh trên núi Thất Diệu (đền Núi, Yên Phong, Bắc Ninh) Lý Thường Kiệt sai người tới ngôi đền thiêng thờ Thánh Tam Giang (Trương Hống, Trương Hát) ở ngã ba Xà (nơi hợp lưu sông Cà Lồ, Như Nguyệt) nơi gần đại bản doanh Triệu Tiết, tựa như thần nhân đọc vang lên bài thơ mắng giặc:

Nam Quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên định phận tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phậmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Dịch nghĩa:

Sông núi nước Nam vua Nam ởRành rành định phận tại sách trờiCớ sao lũ giặc sang xâm phạmChúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Khí thơ hùng tráng, quật cường này sống mãi trong lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, được coi là Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt ta.

Phút chốc, lời thơ “Thần” như một liều thuốc tinh thần cực mạnh, nhuệ khí quân dân Đại Việt vụt bùng lên, ngược lại, quân Tống thất vía kinh hồn. Quân Đại Việt bất ngờ tập kích. Sau ngót ngàn năm, đến nay, nhân dân vùng Hiệp Hòa vẫn còn gọi một cánh đồng rộng là cánh đồng Xác – nơi xác giặc chết la liệt ngày xưa và có một ngôi chùa Xác – ngôi chùa cầu siêu cho vong linh lính bại trận năm nào.

Tổng kết chiến tranh, không tính thiệt hại vô kể của lần bị quân Đại Việt sang đánh, Chính Thúc, sử gia nhà Tống viết: “8 vạn phu vận lương và 11 vạn chiến binh chết vì lam chướng. Còn được 28 ngàn người sống sót về, mà trong đó còn ốm yếu nhiều. Kể cả số trước bị địch giết thêm mấy vạn, cả thảy không dưới 30 vạn”. Phí tổn tiền vàng tính ra là 5 triệu 190 ngàn lượng vàng”.

Chiến thắng vang dội, thế nước cường thịnh, Đoàn ngoại giao do Binh bộ Thượng thư Lê Văn Thịnh (tương đương Bộ trưởng Quốc phòng) sang trại Vĩnh Bình đàm phán thắng lợi, giành lại cương thổ đã mất về tay nhà Tống trước và trong chiến tranh.

Lập võ công hiển hách, nhưng để giữ hòa khí bang giao (nhà Tống đòi xử người cầm đầu cuộc chiến ở Đại Việt), Lý Thường Kiệt tự nguyện rời triều đình vào Thanh Hóa trấn nhậm. Song đó cũng là sách lược để giữ yên cương thổ phía Nam Tổ quốc.

Từ Khôi

Trở Lại Tác Giả Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà / 2023

Việc phát hiện ra văn bản xưa nhất về truyền thuyết bài thơ Nam quốc sơn hà của chúng tôi cách đây 5 năm đã được sự chú ý của dư luận. Đó là một may mắn ít có đối với người nghiên cứu. Gần đây, trên báo Văn nghệ số 52 (27-12-2008) đã đăng tải bài viết “Về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà” của tác giả Trọng Miễn, chúng tôi thấy nếu không trở lại bàn thêm về bài thơ thì khó có thể làm sáng tỏ những nghi vấn mà tác giả Trọng Miễn nêu ra trong bài viết.

Trước hết, khi bàn về tác giả của bài thơ “Nam quốc sơn hà”, theo chúng tôi không thể chỉ dựa vào hai bài viết “Văn bản xưa nhất về truyền thuyết trong có bài thơ Nam quốc sơn hà của Nguyễn Thị Oanh trên tạp chí Văn hóa dân gian (số 2-2002) và bài “Bàn thêm về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà” của Văn Đắc trên tạp chí Xứ Thanh (số 7-2003) để đại diện cho hai nhóm ý kiến khác nhau khi nói về tác giả của bài thơ nổi tiếng đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Từ trước cách mạng tháng Tám, có không ít học giả nổi tiếng như Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đổng Chi, Dương Quảng Hàm, Văn Tân, Đinh Gia Khánh… đã cho rằng tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt. Năm 1988, người đầu tiên đặt lại vấn đề tác giả của bài thơ là GS. Hà Văn Tấn. Ông cho rằng “Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Tiếp đó, năm 2000, PGS. Bùi Duy Tân trong bài: Truyền thuyết về một bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh không phải của Lý Thường Kiệt” cũng dựa vào truyền thuyết và huyền tích còn lại để nêu lên những dự đoán về thời điểm ra đời của bài thơ “xuất hiện từ thời Ngô và sau đó là thời Đinh Lê, tức đầu thời tự chủ”. Khi điểm lại lịch sử vấn đề, sẽ công bằng và khoa học hơn nếu nhắc lại tên tuổi của các học giả đi trước và những ý kiến khác về bài thơ này. Bàn về những sự kiện và nhân vật lịch sử đã cách xa chúng ta ngót nghét ngàn năm, trong điều kiện không có nhiều tư liệu, thì không thể chỉ dựa vào hai bài viết để có thể nhanh chóng “khẳng định đúng – sai” được, huống hồ tác giả Trọng Miễn còn chưa bao quát hết một số bài nghiên cứu và trao đôi gần đây về bài thơ.

Chúng ta đã biết, bài thơ Nam quốc sơn hà nằm trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát, thuộc loại truyền thuyết anh hùng thường thấy trong lịch sử dân tộc. Với một khối lượng khoảng 35 dị bản sách và 8 dị bản thần tích vể truyền thuyết trong có bài thơ được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hiện còn lưu trữ tại các thư viện ở Hà Nội, cho thấy truyền thuyết có sức hấp dẫn nhiều thế hệ độc giả. Trong bài viết Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà đăng trong Tạp chí Hán Nôm số 1 (50) năm 2002, chúng tôi đã dựa vào sự thay đổi về nội dung truyền thuyết và thời điểm ra đời của bài thơ, từ đó chia nguồn tư liệu trên thành hai nhóm gắn với hai giả thiết: một là bài thơ ra đời gắn với công cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất năm 981 của Lê Đại Hành và hai là gắn với cuộc kháng chiến chống Tống năm 1076 của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt. Đại diện cho nhóm thứ nhất là sách Lĩnh Nam chích quái (LNCQ), ký hiệu A.2914 , hiện lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm; và đại diện cho nhóm thứ hai là sách Việt điện u linh (VĐUL), ký hiệu A.751 của thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sau khi so sánh LNCQ với VĐUL chúng tôi đã thấy bên cạnh cái chung, sự khác nhau trong các tình tiết cụ thể cũng là điều dễ nhận thấy. Nếu truyền thuyết trong LNCQ gắn với nhân vật lịch sử Lê Đại Hành và công cuộc chống ngoại xâm thì truyền thuyết trong VĐUL gắn với nhân vật lịch sử Ngô Nam Tấn và công cuộc dẹp nội loạn ở trong nước. Nếu bài thơ Nam quốc sơn hà trong LNCQ là thành phần hữu cơ gắn bó với truyền thuyết thì bài thơ trong VĐUL là sự chép nối sau khi truyền thuyết Ngô Nam Tấn kết thúc. Bài thơ Nam quốc sơn hà ở LNCQ ra đời gắn với chiến trận cụ thể, với đối tượng cụ thể là giặc Tống (Bắc lỗ), còn bài thơ ở VĐUL đã mang tính khái quát, chỉ chung cho mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng là giặc ngoại xâm (nghịch lỗ). Ngoài ra, việc phong thưởng của nhà nước phong kiến không có trong sự kiện hai thần phù giúp Lý Thường Kiệt đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt.

Lý giải về sự khác nhau giữa LNCQ và các sách chính thống của nhà nước phong kiến như VĐUL và Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), chúng tôi cho rằng có thể truyền thuyết đã được các nhà Nho sau này tái tạo lại cho phù hợp với thời đại và nhãn quan Nho giáo. Đánh giá về Lê Hoàn (Lê Đại Hành), trong khi nhà viết sử Lê Văn Hưu đã hết lời ca ngợi ông là người có công lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất, thì dưới ngòi bút của Ngô Sĩ Liên, Lê Hoàn lại bị phê phán gay gắt về tội không hết lòng phò tá con vua Đinh, lập Dương thị làm hoàng hậu. Dưới con mắt của Ngô Sĩ Liên, hành động của ông là việc làm “đáng hổ thẹn” (ĐVSKTT, T.I, tr.221). Với cách nhìn nhận và đánh giá của sử gia phong kiến đối với nhân vật Lê Đại Hành như vậy thì việc ghi chép nội dung truyền thuyết và bài thơ Nam quốc sơn hà vốn gắn với thời đại của Lê Đại Hành sang nhân vật lịch sử Lý Thường Kiệt là việc dễ có thể xảy ra. Cũng có thể trong chiến trận với giặc Tống Trên sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã được hai thần phù hộ, hiển linh đọc bài thơ Nam quốc sơn hà khiến cho giặc Tống bị thua, song việc hai thần không được triều đình nhà Lý bấy giờ khen thưởng là việc không thể xảy ra ở thời đại mà cõi u linh vẫn chiếm một phần trong cuộc sống con người và thần quyền là một thực thể tồn tại như một tín ngưỡng.

Sở dĩ dân tộc ta làm nên những chiến công lừng lẫy trước các cuộc xâm lăng của đế chế phương Bắc, là do đã hội tụ đầy đủ cả ba điều kiện “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Người xưa đặt chữ “thiên” lên đầu cũng là để nhấn mạnh sự trợ giúp của thần linh trong việc “điều phối biến hóa việc thế gian, quyết định số phận cho muôn loài”. Con người thời cổ đại, đứng trước bí ẩn của thế giới tự nhiên, thường đặt niềm tin vào những giá trị mà họ cho là thiêng liêng. Chẳng thế, hầu hết các thiên truyện trong sách VĐUL về các thần “khí thể rừng rực lúc đương thời, anh linh tỏa rộng đến đời sau” đều ghi lại việc thần linh hiển ứng trợ giúp vua đi đánh giặc hay trừ tai họa cho dân. “Niềm tin có được là do sự nhận thức của ý thức”, nhưng một khi niềm tin đi vào thế giới tâm linh thì nó có sức lan tỏa, có sức truyền cảm và tập trung sức mạnh ghê gớm. Câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư” (Sông núi nước Nam vua Nam ở, Trời xanh đã định tại sách trời) là nói đến quyền độc lập tự chủ của nước ta được quyết định trước hết từ trong “thiên thư” do trời và thần công nhận. Một khi nền độc lập và chủ quyền đó đã mang sức mạnh của tự nhiên thì nó sẽ tồn tại một cách vững chắc, bất khả xâm phạm. Bất cứ kẻ thù nào làm phương hại đến nền độc lập, tự chủ ấy sẽ bị trời và thần trừng trị. Chưa cần nhờ đến sức của con người, chỉ với sức mạnh của thần linh, của “hồn thiêng sông núi” thì bọn ngoại xâm đã phải thảm bại.

“Địa lợi” là nguyên nhân thứ hai và cũng là nguyên nhân quan trọng để dân tộc ta làm nên những chiến công chống ngoại xâm trong lịch sử. Địa lợi là lợi thế về sự hiểm yếu của núi sông, là các điều kiện tự nhiên nóng lắm mưa nhiều, rừng thiêng nước độc… Trần Lôi trong bài “Quá Phong Khê” đã nhắc đến chuyện Mã Viện khi ở Đông Quan nhìn ra Lãng Bạc thấy diều bay rơi xuống nước đã than thở “Ngưỡng thị phi diên, điệp điệp trụy thủy trung” (Ngước trong thấy diều bay, Lớp lớp rơi xuống nước) ( Hậu Hán thư, Mã Viện truyện), ý nói đất Nam Việt nhiều lam chướng, đến con diều cũng không bay qua được phải rơi thẳng xuống nước. Thứ sử Doanh Châu là Lư Thượng Tổ bị tội chết khi đưa ra lý do: “Đất Lĩnh Nam lam chướng, dịch lệ, đó là cái lẽ đã ra đi thì không trở về” để từ chối việc vua Đường sai sang làm Đô đốc Giao Châu ( ĐVSKTT,TI, tr.189).

Không chỉ lam chướng, núi sông hiểm trở cũng là cạm bẫy chôn vùi kẻ thù xâm lược. “Nguyễn Sưởng (?-?) khi đứng trước dòng sông Bạch Đằng lịch sử cũng đã ca ngợi dòng sông – nơi đánh dấu hai lần chiến thắng giặc xâm lược Nguyên Mông: “Thùy tri vạn cổ trùng hưng nghiệp, Bán tại quan hà bán tại nhân” (Mấy ai biết được sự nghiệp trùng hưng muôn thuở, một nửa nhờ địa thế núi sông, một nửa do con người)(Trùng Hưng là niên hiệu của vua Trần Nhân Tông). Khi sang sứ phương Bắc, Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) đứng trước ngôi đền thờ Mã Viện, kẻ đã mang quân tới phá tan khát vọng muốn được độc lập, muốn được làm chủ trên vùng đất của mình của hai nữ anh hùng người Việt: bà Trưng, bà Trắc, cũng đã phải thốt lên: “Thanh giang tằng tẩy tê xa báng, Chướng lĩnh nan mai mã cách hồn (Dòng sông trong đã từng nhấn chìm lời báng bổ về sự kiên cố của những cỗ xe, nhưng lam chướng của vùng núi non hiểm trở lại không thể chôn vùi hồn của những kẻ ngồi trên yên ngựa) . Hai chữ “tê xa” trong câu thơ đầu “Thanh giang tằng tẩy tê xa báng” được ông lấy từ điển tích trong sách của Hàn Phi Tử. Sách đó có câu: “Thác ư tê xa lương mã chi thượng, tắc khả dĩ lục phạn phản trở chi hoạn; thừa chu chi an, trì tiếp chi lợi tắc khả dĩ thủy tuyệt giang hà chi nạn (Tạm dịch: Nếu cậy cưỡi trên xe tuấn mã, thì có thể gặp nỗi lo bị bắt ở nơi hiểm trở trên đường; nếu cậy đi thuyền an toàn với mái chèo tốt thì có thể gặp nạn chết trên sông nước). Ý của điển này là sự cảnh báo trong chiến đấu, đối với những ai chủ quan, cậy vào sức mạnh của vũ khí,vật dụng mà quên đi các điều kiện tự nhiên khác cũng sẽ bị thất bại. Nguyễn Trung Ngạn nhắc tới hình ảnh “Dòng sông trong” là nói tới những chiến công vang dội của quân và dân ta trên sông Bạch Đằng, Như Nguyệt …từ thời Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, đến chiến công chống quân nhà Tống lần thứ nhất thời Lê Đại Hành, lần thứ hai thời nhà Lý, chống quân Nguyên thời nhà Trần… trong lịch sử, nó đã chứng minh lời cảnh báo của Hàn Phi Tử cho những kẻ hiếu chiến cậy có các vũ khí và các vật dụng tốt, nhưng rút cục vẫn phải chịu thất bại. Nhưng lùi lại thời gian với sự kiện khởi nghĩa của Hai Bà, dường như ‘lam chướng” phương Nam không đủ vùi dập kẻ thù. Mã Viện khi mang quân sang dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, chắc hẳn cũng được trang bị đầy đủ với những vũ khí và vật dụng tốt nhất, nhưng quân của Mã Viện lại không bị chôn vùi bởi lam chướng của vùng núi non hiểm trở ở vùng Lĩnh Nam. Câu thơ ” Thanh giang tằng tẩy tê xa báng, Chướng Lĩnh nan mai mã cách hồn” là sự tự hào về tài lợi dụng “địa lợi” của những người cầm quân phương Nam trong chiến tranh giữ nước từ thời Ngô Quyền cho đến thời nhà Trần và là sự nuối tiếc của nhà thơ khi Hai Bà Trưng đã không tận dụng được điều kiện đó để làm nên chiến thắng trước kẻ thù xâm lược.

Sở dĩ chúng tôi dẫn một số sách vở và một vài câu thơ của các tác giả thời Lý-Trần là nhằm khẳng định “địa lợi” là điều kiện thứ hai không thể thiếu trong lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm ở nước ta. Truyền thuyết bài thơ Nam quốc sơn hà trong LNCQ gắn với Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 sở dĩ đáng tin cậy vì nó cho thấy rõ chiến trận do Lê Đại Hành chỉ huy đã tận dụng điều kiện thiên nhiên bất lợi với kẻ thù để đánh một trận quyết định. Bài thơ Nam quốc sơn hà được thần ngân vang lên trong một đêm mưa to gió lớn “Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư, Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm, Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ” (Sông núi nước Nam vua Nam ở, Trời xanh đã định tại sách trời, Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm, Sẽ gặp cuồng phong đánh tả tơi”, càng khiến quân thù khiếp sợ, không đánh mà tự thất bại, cho thấy “địa lợi” mà người chỉ huy quân đội đã khôn khéo lợi dụng để chống lại kẻ thù hung hãn phương Bắc. Trong khi đó trong sách VĐUL và ĐVSKTT chỉ ghi vắn tắt “Thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127) quân Tống sang xâm lấn. Vua sai Lý Thường Kiệt lập trại ở ven sông để chống giữ. Một đêm, quân sĩ trong nghe trong đền có tiếng Thần ngâm thơ: Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (“Sông núi nước Nam đã có vua Nam ở, Tại sổ trời đã ghi địa phận rõ ràng. Sao bọn giặc kia dám lại xâm phạm, Chúng bay sẽ thấy bị thua to”). Rồi quả nhiên quân Tống bị thua, phải rút về nước”. Cách ghi chép có phần sơ lược đó đã không cho chúng ta biết chi tiết về khung cảnh của một trận chiến quyết định, trong đó có ta và địch, cũng không cho thấy rõ “địa lợi” mà Lý Thường Kiệt đã tận dụng.

Nhân hòa là điều kiện quan trọng thứ ba để làm nên chiến thắng trước kẻ thù xâm lược. Khi tổ quốc bị xâm lăng, non sông bị dày xéo, đất nước ở thế ngàn cân treo sợ tóc thì tất cả mọi người đều sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, vua còn ấu thơ, thế giặc lại lớn, lòng người đều hướng về Lê Hoàn, mong ông lên ngôi để dẹp giặc ngoại xâm, lúc đó Dương thị đã không ngần ngại sai người khoác áo long bào lên người Lê Hoàn và mời ông lên ngôi Hoàng đế. Hành động của bà đã thống nhất tinh thần toàn quân, tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để đánh tan kẻ thù xâm lược. Nếu bà giữ đạo trung quân, thử hỏi lòng quân và dân có “hòa” được không, khi đề nghị của tướng Cự Lạng đưa Lê Hoàn lên ngôi đã được toàn quân tung hô “vạn tuế”. Tác giả Trọng Miễn cho rằng cuộc đánh Tống năm 981 của Lê Đại Hành “đã gian khổ, ác liệt, nhưng không ác liệt và gian khổ bằng Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt 1076”. Có lẽ không nên so sánh thế, bởi dưới thời vua Lý Nhân Tông, thế nước mạnh tới mức “nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo”, ở thời Lê Đại Hành, vua còn nhỏ, thế giặc mạnh, thì nguy cơ mất nước vào tay giặc ngoại xâm chỉ trong gang tấc. Vì thế hành động “khoác áo bào, mời Đại Hành lên ngôi Hoàng đế” thể hiện tinh thần “tổ quốc trên hết” của bà Dương thị. ĐVSKTT có ghi việc “về sau, tục dân lập đền thờ, tô tượng hai vua Tiên Hoàng và Đại Hành và tượng Dương hậu cùng ngồi, hồi quốc sơ [đầu thời Lê] vẫn còn như thế”, chứng tỏ thái độ của nhân dân ta thật rõ ràng, công minh, tôn kính những người có công với nước với dân, cho dù các sử gia phong kiến có lên án, buộc tội oan uổng.

Một điểm nữa chúng tôi muốn nói đến đó là chữ “đế” trong câu thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong buổi đầu của ông cuộc giữ vững nền độc lập và phục hưng đất nước của dân tộc ta. Ở thời bấy giờ, người ta thường quan niệm một nước độc lập và có chủ quyền phải là nước có vua. Lê Đại Hành lên ngôi Hoàng đế là để khẳng định nước Việt “có chủ và tương lai trường tồn”, là để khẳng định “Nam đế” cũng ngang hàng với hoàng đế của các quốc gia phong kiến láng giềng khác như Liêu, Hạ . Điều đó đã được ngay chính sứ giả nhà Tống là Lý Giác công nhận “Ngoài trời lại có trời soi nữa”. Chữ “đế “ở đây không phải chỉ vua Trần Nhân Tông, vì Trần Nhân Tông chỉ xưng vương. Vì vậy , truyền thuyết về bài thơ Nam quốc sơn hà gắn với Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và công cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 của dân tộc ta là điều không thể phủ nhận.

Tác giả Trần Miễn cho rằng “bài thơ trong LNCQ vẫn thuộc dòng thơ thiền, pha màu đạo giáo, nặng tư tưởng thiên mệnh lại cố gắn với Lê Hoàn, gắn với cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 “, theo chúng tôi, ông chưa thực sự khách quan và công bằng trong việc đánh giá nhân vật và sự kiện lịch sử. GS. Đặng Thái Mai đã lưu ý : ” Nên chú ý đến tâm lý thời đại”. Ông còn dẫn lời nhà nghiên cứu văn hóa Trung đại A.Fu-re-vích cũng cho rằng: “Điều mà người hiện đại coi là giá trị cơ bản của cuộc sống, vị tất người của những thời đại khác… đã xem là như vậy; và trái lại cái mà ta xem là tầm thường, hư trá, thì đối với những con người của xã hội khác, họ lại cho là chân lí và vô cùng hệ trọng”.

Về tác giả của bài thơ Nam quốc sơn hà, tác giả Trọng Miễn đã lấy dẫn chứng vua Lê Đại Hành sai Khuông Việt đọc thơ của Lý Giác và sai ông làm thơ để tiễn sứ giả Trung Quốc để khẳng định “Điều này càng chứng tỏ bài thơ Nam quốc sơn hà không thể gắn với Lê Đại Hành trong cuộc chống Tống năm 981. Vì Lê Đại Hành không những không biết sáng tác thơ văn mà cũng không hiểu biết nhiều về thơ văn”, theo chúng tôi cho dù không biết sáng tác thơ văn, nhưng cũng không vì thế mà phủ định bài thơ ra đời vào thời Lê Đại Hành, vì dưới ông còn nhiều người giỏi thơ văn phụ giúp.

Nói về tác giả của bài thơ, trước hết chúng tôi muốn nhắc lại quan điểm của PGS. Bùi Duy Tân, Nam quốc sơn hà là bài thơ có tính chất dân gian, do người mượn uy thần làm ra, nên không thể nói chắc chắn tác giả bài thơ là vị nào Lê Đại Hành, hay Lý Thường Kiệt. Trong khi chưa tìm ra được tư liệu đáng tin cậy ghi chép chính xác về tác giả bài thơ, thì mọi ý kiến của chúng ta về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà chỉ là giả thiết mà thôi.

Trong bài viết năm 2002, sau khi phân tích để đi đến kết luận, bài thơ Nam quốc sơn hà ra đời gắn với Lê Đại Hành và công cuộc kháng chiến vĩ đại lần thứ nhất của dân tộc ta sau khi giành được độc lập tự chủ từ tay đế chế phương Bắc, chúng tôi cũng đã đưa ra suy đoán tác giả của bài thơ trước hết thuộc người trong hàng ngũ trí thức biết chữ Hán, giỏi thơ văn, đồng thời cũng phải là những người đã tận mắt chứng kiến, hoặc cùng tham gia chiến đấu trong chiến trận với kẻ thù xâm lược. Vậy người nào đã tham gia chiến trận năm 981 chống quân nhà Tống với vua Lê Đại Hành ? Ngoài số tướng lĩnh như tướng quân Phạm Cự Lạng sách LNCQ và ĐVSKTT đã ghi, dưới trướng của ông còn một số thiền sư trợ giúp như Đại sư Khuông Việt (933-1011). Sách Thiền uyển tập anh mục Đại sư Khuông Việt cho biết: ” dưới triều Lê Đại Hành, sư đặc biệt được vua kính trọng, phàm các việc quân quốc triều đình, sư đều được tham dự… Năm Thiên Phúc thứ nhất (981), quân Tống sang xâm lược nước ta. Trước đó vua đã biết chuyện này, bèn sai sư đến đền cầu đảo xin thần phù hộ (chúng tôi nhấn mạnh), quân giặc kinh sợ lui về giữ sông Hữu Ninh. Đến đây, bọn chúng lại thấy sóng gió nổi lên ùn ùn, giao long nhảy tung trên mặt nước, quân giặc sợ hãi tan chạy”.

Đoạn ghi chép trên trong sách Thiền uyển tập anh (TUTA) đã cho chúng ta biết thông tin quan trọng, đó là đại sư Khuông Việt đã tham gia chiến trận chống Tống năm 981 với vua Lê Đại Hành. Ông còn được vua sai đến đền để cầu đảo xin thần phù hộ. TUTA không cho biết cụ thể về ngôi đền nào, nhưng có thể là một trong ngôi đền thờ Trương Hống, Trương Hát (vốn được thờ như thủy thần khắp các làng xã ven sông Cầu, sông Đuống, sông Lục Đầu), vì sách TUTA cũng cho biết đương thời, ông thường đến chơi ở quận Bình Lỗ, một địa danh gần với sông Đồ Lỗ nơi Lê Đại Hành đóng quân cầm cự với giặc Tống theo truyền thuyết trong LNCQ. Các nhà sử học Việt Nam đã xác định Đồ Lỗ “là nơi gần gũi với sông Cầu và sông Cà Lồ, vì Bình Giang chính là sông Cầu, còn Như Nguyệt là chỗ sông Cà Lồ đổ vào sông Cầu”, là phòng tuyến chống giặc Tống của quân ta thời đó. Theo sách TUTA thì địa điểm giặc Tống thua là trên sông Hữu Ninh. Theo một số nhà nghiên cứu, sông Hữu Ninh cũng là sông Chi Ninh, vốn là sông Chi Lăng, đến đời Lê Trang Tông (1533-1548) kiêng húy chữ Ninh nên đã sửa lại là Chi Lăng, tức là con sông Thương chảy qua ải Chi Lăng ( tỉnh Lạng Sơn), đổ xuống sông Lục Đầu. Đối chiếu với truyền thuyết về hai thần Trương Hống Trương Hát phù giúp vua Lê Đại Hành trong LNCQ thì có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt là trận đánh cuối cùng xẩy ra trong đêm mưa to gió lớn khiến giặc Tống đại bại. Chi tiết “ông [Khuông Việt] được vua sai đến đền cầu đảo” cũng dẫn đến gợi ý, có thể khi làm lễ xin thần phù hộ, ý tưởng mượn uy thần làm bài thơ Nam quốc sơn hà để cổ vũ động viên binh sĩ đã hình thành trong ông. Vua sai ông đi cầu đảo, cũng có nghĩa vua và toàn dân đã đặt niềm tin tưởng vào sự trợ giúp của thần. Trong văn hóa tâm linh thời đại, thần có tác dụng với người hơn là người với người, vì thế ông đã mượn uy thần để làm bài thơ Nam quốc sơn hà. Đại sư Khuông Việt là người giỏi thơ văn, ông còn được biết đến với bài từ nổi tiếng Ngọc lang quy đưa tiễn sứ giả Trung Quốc Lý Giác về nước, bởi vậy giả thiết tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà là đại sư Khuông Việt, theo chúng tôi là đáng tin cậy và có sức thuyết phục cao.

Cũng cần nói thêm rằng, bài thơ Nam quốc sơn hà trong LNCQ do người mượn uy thần để làm ra (có thể là đại sư Khuông Việt), mục đích ban đầu chỉ nhằm động viên binh sĩ và làm cho kẻ thù khiếp sợ mà chịu thất bại, nhưng nội dung của bài thơ lại có tính chất như “quốc thi, quốc thiều”, có giá trị như bản Tuyên ngôn độc lập, vì thế từ chỗ gắn liền với một thời đại, một nhân vật lịch sử, nó đã được các nhà Nho sau này thay đổi để trở thành bài thơ cho mọi thời đại. Bài thơ Nam quốc sơn hà trong sách VĐUL và ĐVSKTT sở dĩ có sức phổ cập và lưu truyền rộng rãi trong xã hội là bởi nó đã được các sách chính thống của nhà nước phong kiến ghi chép. Tuy nhiên, lịch sử cũng thật công bằng, truyền thuyết dân gian về hai thần phù hộ Lê Đại Hành chống giặc Tống xâm lược năm 981 được sách LNCQ và một số lượng áp đảo các dị bản sách và thần tích viết bằng chữ Hán, chữ Nôm ghi lại hiện lưu giữ tại các thư viện và các ngôi đền thờ hai thần dọc các dòng sông, nơi chứng kiến những chiến công lẫy lừng của dân tộc ta trước quân xâm lược phương Bắc, đã cho thấy sự bền bỉ chảy suốt cả ngàn năm chưa bao giờ đứt đoạn của dòng mạch ngầm văn hóa dân gian, cho dù nó có được dòng tư tưởng xã hội chính thống coi trọng hay không. Cũng nhờ có những văn bản đáng tin cậy được lưu giữ cho đến nay mà chúng ta đã tìm trở về thời điểm xuất hiện đầu tiên của bài thơ, qua đó có thể hiểu sâu hơn những giá trị văn hóa lớn lao mà cha ông chúng ta đã để lại.