Top 21 # Xuất Xứ Bài Thơ Viếng Lăng Bác / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Kết Bài Bài Thơ Viếng Lăng Bác / 2023

Những cách viết Kết bài bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương.

Kết bài bài thơ Viếng lăng Bác

Bằng những hình ảnh đẹp giàu tính biểu tượng cùng chất suy tưởng lãng mạn, nhà thơ Viễn Phương trong bài thơ Viếng lăng Bác đã thể hiện đầy xúc động tình cảm của những người con miền Nam khi lần đầu tiên được ra viếng lăng Bác, đó còn là sự trân trọng, biết ơn của nhà thơ cũng là của tất cả con người, dân tộc Việt Nam với tình yêu, sự nghiệp giải phóng sáng ngời như vầng thái dương của Bác đối với dân tộc Việt Nam. Bác tuy đã đi xa nhưng hình ảnh của Người vẫn luôn sống mãi trong trái tim, tâm hồn của mỗi người Việt Nam.

Đã có rất nhiều áng văn thơ bất hủ viết về Bác, về sự nghiệp cách mạng sáng ngời của Người, “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương xứng đáng góp mặt trong những tác phẩm thi ca xuất sắc nhất viết về Bác, bằng tình cảm trân trọng, kính yêu của người con miền Nam, Viễn Phương đã nói lên tình cảm của hàng triệu con người Việt Nam dành cho vị cha già dân tộc. Bác sẽ luôn là mặt trời sáng nhất, ấp áp nhất trong trái tim mỗi con người Việt Nam. Hình ảnh về Bác, về sự nghiệp và cuộc đời của Bác đâu chỉ gây xúc động cho Viễn Phương, cho con người, dân tộc Việt Nam mà còn là người truyền cảm hứng cho rất nhiều con người, dân tộc trên thế giới, viết về Người, đúng như nhà thơ người Cu Ba từng viết: Hồ Chí Minh – tên người là cả một miền thơ

Bằng ngôn ngữ giản dị, lời thơ nhẹ nhàng, chân thành như một lời tâm sự, nhà thơ Viễn Phương đã bộc lộ niềm xúc động khôn xiết và cả lòng biết ơn, kính yêu sâu sắc với Bác khi được vinh dự là một trong những người con miền Nam đầu tiên được ra thăm lăng Bác. Tình cảm ấy của Viễn Phương cũng chính là tiếng lòng chung của toàn thể người dân Việt Nam Người – vị cha già dân tộc. Và với Viễn Phương, với tôi hay với hàng triệu con người Việt Nam, Bác và tấm lòng, công lao của Bác đối với dân tộc sẽ luôn sống mãi trong trái tim.

Có thể nói Viếng lăng Bác của Viễn Phương chính là kết tinh hoàn hảo nhất của tình yêu, tấm lòng của một người con Việt Nam và tài năng, sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Viếng lăng Bác không chỉ thể hiện niềm xúc động của Viễn Phương khi ra viếng lăng Bác mà còn thể hiện sự biết ơn, kính yêu của nhà thơ hay cũng chính là của tất cả con người Việt Nam trước công lao to lớn của Người dành cho đất nước, dân tộc. Nguyện ước được làm hàng tre trung hiếu bên Bác cuối bài thơ thực xúc động, bởi đó là tình cảm, sự trân quý đẹp đẽ nhất mà nhà thơ muốn gửi đến Bác.

Phân Tích Bài Thơ: Viếng Lăng Bác / 2023

Thời gian có thể phủ bụi dường như tất cả nhưng có những chân giá trị, những con người càng rời xa thời gian, càng sáng, càng đẹp. Đã gần nửa thế kỉ trôi qua, Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ vĩ đại cống hiến và hy sinh cả cuộc đời mình cho quốc gia, dân tộc – vẫn chiếm trọn tình cảm của mỗi người con Việt Nam. “Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị. Màu quê hương bền bỉ đậm đà. Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta…” (Tố Hữu). Và một lần nữa, ta lại không khỏi bồi hồi trước những dòng thơ trong bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương. Bài thơ chính là tấm lòng “tủy cốt chung tình” nhất không chỉ của tác giả, mà còn của toàn thể đồng bào Việt.

Nhắc đến Viễn Phương, Mai Văn Tạo có lần từng nhận xét: “Thơ Viễn Phương nền nã, thì thầm, man mác, bâng khuâng, day dứt, không gút mắc, cầu kỳ, kênh kiệu, khoa ngôn. Hình ảnh nào trong đời sống anh cũng tìm thấy chất thơ. Không đợi đến “Tiếng tù và trong sương đêm”, “Hoa lục bình trôi man mác tím, bông lau bát ngát nắng chiều” hay “Chòm xanh điên điển nhuộm vàng mặt nước”… Một mái lá khô hanh trong rừng vắng anh cũng đưa vào đấy cái thực, cái hư, rất thơ mà thực, rất thực mà thơ” Quả thật như vậy, các sáng tác của Viễn Phương đã thể hiện rất rõ điều đó.

Ông có rất nhiều thi phẩm hay nhưng nổi bật nhất phải kể đến Viếng lăng Bác. Bài thơ được in trong tập “Như mây mùa xuân” năm 1976 với những dòng cảm xúc chân thành, sâu sắc, niềm thành kính và biết ơn của nhà thơ cũng như toàn thể đồng bào miền Nam, của nhân dân toàn quốc dành cho người cha vĩ đại của dân tộc. Bởi lẽ đó, bài thơ cũng được coi như một nén tâm hương chân thành dâng lên Người.

Trước hết có thể thấy hiện lên ở khổ thơ đầu là cảm xúc tự hào, niềm xúc động khi được đến thăm lăng Bác để thỏa nỗi lòng của thi nhân:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Câu thơ mở đầu thay cho một lời chào, một lời giới thiệu về hành trình của những đứa con từ miền Nam ra Hà Nội thăm Bác Hồ kính yêu. Cách xưng hô “con -Bác” của người Nam Bộ gợi đến những tình cảm rất thân thương và gần gũi. Nó cho thấy mối quan hệ giữa Bác và những đứa con tựa như tình cha con ruột thịt. Tác giả như một đứa con lâu ngày mới có dịp về thăm vị cha già kính yêu. Với từ “thăm”- một cách nói giảm nói tránh, tác giả cố giấu đi, nén lại trong lòng cảm xúc đau thương mất mát không thể nào bù đắp được của cả dân tộc và cũng như để nói với tự lòng mình: Bác còn sống mãi với non sông đất nước, còn sống mãi “như trời đất của ta”, trong “từng ngọn lúa mỗi nhành hoa” (Tố Hữu).

Hình ảnh “hàng tre bát ngát” hiện ra trong sương mờ buổi sớm trên con đường đến thăm Bác, đó là hình ảnh tả thực, hình ảnh của quê hương thân thương, yên bình, gần gũi luôn ở bên Người. Một câu cảm thán tác giả sử dụng để bộc lộ cảm giác ngỡ ngàng về hình ảnh hàng tre: “Ôi! Hàng trẻ xanh xanh Việt Nam”. Đó là hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp cho người dân Việt Nam, là biểu tượng cho dân tộc Việt Nam trải qua “bão táp mưa sa”- thành ngữ chỉ muôn vàn khó khăn gian khổ để rồi thi nhân như khẳng định chắc nịch rằng: mỗi cây trẻ như một con người Việt Nam bền bỉ, kiên trung, vững vàng nay trở về kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của Bác. Ba hình ảnh đã tạo nên một trường liên tưởng độc đáo, thú vị: Lăng Bác hiện lên như một làng quê yên bình với những con người bình dị, gần gũi vô cùng. Chầm chậm theo dòng người vào trong lăng, nơi Bác đang yên nghỉ, tâm hồn nhà thơ chứa chan lòng thành kính, biết ơn và ngưỡng mộ sâu sắc đối với Bác Hồ:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

“Mặt trời đi qua trên lăng” là mặt trời của vũ trụ, của thiên nhiên ngày ngày sưởi ấm Trái Đất, mang lại sự sống cho vạn vật muôn loài. Tác giả cũng nhận ra, trong lăng cũng có một “mặt trời”, một “mặt trời rất đỏ”. Đó cũng chính là hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp chỉ Bác Hồ kính yêu vì Bác như vầng mặt trời có công lao to lớn cho toàn thể dân tộc, dìu dắt ta từ chỗ lầm than đến ngày tự do huy hoàng. Đồng thời phép ẩn dụ cũng như một cách thể hiện tấm lòng thành kính của chính tác giả với Bác Hồ. Cụm từ “ngày ngày” đã khẳng định quy luật bất biến của con người cũng như tự nhiên: nơi lăng Bác dòng người nối dài vô tận không ngừng nghỉ, lặng lẽ, kính cẩn, trang nghiêm để được vào lăng viếng Bác. Dòng người ấy là tấm gương điển hình trên các mặt trận lao động, sản xuất, chiến đấu, đại diện cho gần 60 dân tộc anh em từ khắp nơi trên mọi miền Tổ quốc tụ họp lại đây. Họ kết thành hình ảnh một “tràng hoa”- hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa tượng trưng cho những gì tốt đẹp nhất, tinh túy nhất của thiên nhiên, của con người Việt Nam thành kính dâng lên Bác, dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân”. Phép hoán dụ, cũng là cách nói trang trọng nhằm diễn đạt ý tứ sâu xa: bảy mươi chín tuổi đời của Bác là bảy mươi chín mùa xuân tươi đẹp, một cuộc đời đẹp và tràn đầy ý nghĩa. Bác đã đem lại cho ta một mùa xuân vĩnh hằng, mùa xuân của độc lập tự do và hạnh phúc. Với những cảm xúc và suy nghĩ của riêng mình, lời thơ của Y Phương đã chạm vào trái tim của tất cả chúng ta khi nghĩ về Bác:

Vì sao trái đất nặng ân tình Nhắc mãi tên Người Hồ Chí Minh.

Mạch cảm xúc của tác giả tiếp tục với những dòng cảm xúc tiếc thương vô hạn, cho dù cố giấu đi những dòng cảm xúc ấy nhưng vẫn đủ sức lay động trái tim của hàng triệu người:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim.

Vẫn là phép nói giảm, nói tránh “giấc ngủ bình yên”, tác giả như cố gắng muốn xua đi sự thật phũ phàng: Bác không còn nữa. Hai câu thơ như tái hiện trước mắt độc giả hình ảnh chân thực: Bác đang nằm trên kính, ánh đèn hồng chiếu xuống khiến cho gương mặt Bác trở nên hồng hào và sáng dịu hiền như vầng trăng. “Trời xanh” và “ánh trăng” được nhắc đến vừa là hình ảnh thực, vừa có ý nghĩa ẩn dụ thể hiện sự bất diệt và trường tồn của thiên nhiên. Kết hợp với cặp quan hệ từ “vẫn biết – mà sao”, tác giả như muốn lấy quy luật của tự nhiên để khẳng định quy luật của con người, nhằm tự trấn an lòng mình: vẫn biết Bác luôn sống mãi trong lòng dân tộc nhưng sự thật phũ phàng rằng Bác đã ra đi mãi mãi khiến tác giả thấy “nghe nhói ở trong tim”. Từ “nghe nhói” là nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác một cách rõ nét nhất cảm giác đau đớn tột cùng của tác giả khi nghĩ sự thật rằng Bác không còn nữa. Đó là nỗi đau quá lớn khiến tác giả không giấu nổi nghẹn ngào.

Có lẽ cũng bởi vậy mà mới nghĩ đến việc ngày mai phải xa Bác kính yêu, lòng tác giả và những đứa con miền Nam đã dâng niềm xúc động bồi hổi:

Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…

Lời thơ nghẹn ngào, nức nở, cảm xúc nhớ thương được bộc lộ một cách trực tiếp, “thương trào nước mắt” không chỉ là cảm xúc của Viễn Phương mà ông như đang nói hộ tâm lòng của muôn vàn những trái tim ấm nóng khác khi phải xa chốn thiêng liêng. Để rút ngắn khoảng cách không gian, nhà thơ đã bày tỏ niềm ước muốn chân thành, thiết tha, xúc động bằng một loạt các động từ “muốn làm” kết hợp với hình ảnh thiên nhiên đầy ẩn dụ tượng trưng: làm con chim để dâng tiếng hót lên lăng Bác, làm cây trẻ thành kính, tôn nghiêm như người lính canh giữ giấc ngủ bình yên cho Người. Đó không chỉ là hình ảnh tinh túy của thiên nhiên mà còn là hình ảnh kết tinh vẻ đẹp sức sống con người kính dâng lên Bác. Bình dị, khiêm nhường, không ồn ào khoa trương, ước nguyện của nhà thơ cũng là ước nguyện của chúng ta: Ai cũng muốn ở bên Bác, muốn làm điều gì đó dẫu là nhỏ bé cho Bác vui lòng.

Đặc biệt hơn cả là hình ảnh “cây tre trung hiếu” kết thúc bài thơ tạo ra kết cấu dầu cuối tương ứng. Đồng thời còn là hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ mang ý nghĩa khái quát, nhất là đặt trong hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ, câu thơ khẳng định tấm lòng chung thủy, sắt son với Đảng, với Bác Hồ của đồng bào miền Nam.

Cứ thế, bước chân đi nhưng lòng còn níu lại. Cảm xúc của nhà thơ thật chân thành, xúc động đã chạm vào dây đồng cảm của tất cả chúng ta.

Cùng với tất cả những tác phẩm ca ngợi về hồ chủ tịch, bài thơ Viếng lăng Bác đã để lại dòng cảm xúc xót thương biết bao trong lòng người đọc suốt bốn mươi năm qua bởi thành công rực rỡ về cả nội dung lẫn nghệ thuật. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, đậm chất Nam Bộ, hình ảnh thơ chân thực gợi nhiều trường liên tưởng, tưởng tượng. Trong đó, đặc sắc nhất là những biện pháp như: nói giảm, nói tránh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp từ… được tác giả sử dụng linh hoạt, hiệu quả cao về giá trị thẩm mỹ. Bài thơ bởi lẽ đó đã mang đến cho ta những cảm xúc sâu sắc về Bác Hồ kính yêu với những công lao vĩ đại mà Người đã cống hiến, hy sinh cho dân tộc. Với ý nghĩa đó, bài thơ thực sự trở thành nén tâm hương thành kính của nhà thơ cũng như của nhân dân cả nước kính dâng lên Bác. Bên cạnh đó, Viễn Phương đã góp phần lớn của mình vào đề tài ca ngợi lãnh tụ. Một bài thơ hay, một cảm xúc chân thành, lắng đọng trong lòng người đọc.

Cùng với rất nhiều bài thơ ca ngợi Bác, Viếng lăng Bác của Viễn Phương mãi mãi là bài ca đi cùng năm tháng. Bài thơ đã thể hiện trong lòng ta những cảm xúc tự hào, biết ơn vô hạn với vị cha già vĩ đại của dân tộc.

Hoàng Hà Anh

Tìm Xuất Xứ Bài Thơ ‘Cảnh Khuya’ Của Bác Hồ / 2023

Tìm xuất xứ bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ

(VH&ĐS) Tháng 12/2013, trở lại các tỉnh Việt Bắc để xác minh một số tài liệu và thu thập thêm tư liệu về Bác Hồ thời kỳ Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và thời kỳ Bác trở lại chiến khu Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Người ngồi đó với cây chì đỏ – vạch đường đi từng bước, từng giờ (thơ Tố Hữu).

Đến Việt Bắc không thể không đến ATK Định Hoá. Và, đến ATK Định Hoá, không thể không đến đồi Khau Tý – một di tích lịch sử văn hoá được bảo tồn nguyên vẹn. Mỗi lần đến là một lần xúc động.

Trên đường lên Chiến khu Việt Bắc (ATK) Bác Hồ và những đồng chí cùng đi đã đến xã Điểm Mặc, huyện Định Hóa ngày 20/5/1947, đúng như dự định. Tại đây những ngày đầu Bác ở bản Quyên, nhà Chủ tịch xã Ma Đình Trường, sau đó chuyển lên ở lán trên đồi Khau Tý, thôn Nà Tra. Đồi Khau Tý, tiếng địa phương gọi là đồi Cây Thị. Lán được dựng theo đúng với kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc Định Hóa, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, vách dựng bằng liếp nứa. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng (được Bác Hồ đặt tên trong số 8 đồng chí) kể trong cuốn Những năm tháng bên Bác “Chúng tôi làm riêng cho Bác một cái “lầu”. Tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí ẩm thấp của núi rừng. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải sang trái vừa chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ”.

Định Hóa được chọn làm trung tâm ATK vì đây là vùng địa hình núi non hiểm trở, địch không thể dùng xe cơ giới tấn công, mà ta thì lại sẵn các đường nhỏ xuyên rừng nối liền với các vùng Tây Bắc, vùng trung du, vùng đồng bằng. Năm 1906, nhà chí sĩ ái quốc Phan Bội Châu đã từ Quảng Châu (Trung Quốc) tìm về Định Hóa khảo sát, định xây dựng vùng này thành căn cứ địa chống Pháp.

Thu Đông 1947, thực dân Pháp tập trung binh lực, huy động hơn một vạn quân tinh nhuệ gồm cả Hải, Lục, Không quân mở một đợt tấn công quy mô, chia hai gọng kìm khép chặt Việt Bắc hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Trong vòng vây trùng điệp bốn bề của địch, Bác và Trung ương chỉ đạo sáng suốt các cơ quan và đơn vị bộ đội di chuyển và thực hiện phương châm vừa đánh vừa tránh địch ở các địa bàn Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang.

Một tối cuối thu đầu đông, Bác cho mời đồng chí Ma Đình Kháng – Chủ tịch huyện Định Hóa đến lán Bác ở. Hai Bác cháu chuyện trò trong lán dưới tán lá cổ thụ giữa những khóm hoa rừng, xa xa tiếng suối đổ đều đều từ phía chân đồi vọng lại. Bác hỏi đồng chí Kháng về việc vạch kế hoạch tác chiến của huyện khi địch đánh tới đây thì thế nào và Bác sẽ chuyển đi đâu. Đồng chí Kháng báo cáo đầy đủ, tỉ mỉ, chi tiết về kế hoạch đã được chuẩn bị chu đáo. Tận khuya, dưới ánh trăng vàng, Bác tiễn đồng chí Kháng ra về, trở lại giữa rừng khuya trăng sáng, vẻ trầm ngâm, hứng thơ đến với Bác.

Luật sư Phan Anh cũng cho biết: Trong những ngày cực kỳ gay go, khó khăn của những tháng, năm đầu ở Việt Bắc, Bác đã phân tích và chỉ rõ những thuận lợi và những khó khăn của ta và địch. Bác phán đoán những hoạt động của các cánh quân của Pháp, Bác vẽ trên đất về đường tiến, đường lui của địch và của ta và giảng giải cặn kẽ: Chúng bao vây ta với thế gọng kìm ta phải luồn ra ngoài gọng kìm ấy để không mắc vào tròng của chúng. Khi địch rút lui ta lại về chỗ cũ. Luật sư cũng kể lại: chính trong những ngày gay go ấy, sau hôm gặp Bác ở Tràng Xá, ông nhận được thư của Bác, kèm theo một đoạn thơ:

Đêm khuya nhân lúc quan hoài

Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, gió lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Nước nhà đang gặp lúc gay go

Trăm việc ngàn công đều phải lo

Giúp đỡ anh em nên gắng sức

Sức nhiều thắng lợi lại càng to.

Từ sự kiện Bác trò chuyện với đồng chí Ma Đình Kháng và lời kể của luật sư Phan Anh cho ta biết được hoàn cảnh để có 10 câu thơ trên, giúp ta hiểu thêm Bác và thơ Bác. Mặc dù trong những giờ phút đương gặp lúc gay go với lo nỗi nước nhà, Bác vẫn có lúc quan hoài, vẫn có thơ, vẫn có nụ cười dí dỏm Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần.

Luật sư Phan Anh rất cảm động và xúc động khi đọc những câu thơ của Bác nên đã ứng tác họa vần:

Họa vần xin gửi cho ai

Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non

Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa

Trời có trăng và núi có hoa

Trăng sáng bao la trời đất nước

Hoa thơm phảng phất vị hương nhà

Nước nhà đang gặp bước gay go

Lái vững chèo dai ta chẳng lo

Vượt sóng, dựng buồm, ta lựa gió

Thuận chiều, ta mở cánh buồm to.

Sau này, năm 1967 Nxb Văn học làm sách Thơ – Hồ Chủ tịch, những người biên tập chỉ đưa bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Ở câu thứ hai của bài thơ bốn câu này chữ gió được thay bằng chữ bóng.

Quả là bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya diễn đạt trọn vẹn một tứ thơ hay, độc đáo, bất ngờ. Có thể nói được rằng, bốn câu thơ trên hoàn toàn đủ các yếu tố, thành phần của một bài thơ tứ tuyệt hoàn chỉnh, hiểu và cảm nó trọn vẹn như những bài thơ tứ tuyệt khác vậy. Bài thơ Cảnh khuya giúp ta hiểu rõ vì sao đêm khuya Bác chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, đồng thời hé mở một tâm hồn lớn, một bản lĩnh thi nhân tràn đầy sức sống và nhạy cảm trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Dù bề bộn đến đâu, trong lúc lo chăm công nghìn việc cho kháng chiến, cho dân, cho nước, Người vẫn dành một khoảng tâm hồn mình cho thiên nhiên thơ mộng cho trăng cho hoa – tâm hồn thi nhân của Người lúc nào cũng rộng mở vẫn không hề quên những việc nước, việc dân. Những cái mâu thuẫn tưởng như đối ngược lại thống nhất trong con người Bác, thật là kỳ diệu. Bài thơ đã đi vào các thế hệ bạn đọc và ở lại trong lòng bạn đọc cùng với thời gian năm tháng.

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, Tấm quan hoài nước non của Bác là từ lán Bác ở và làm việc trên đồi Khau Tý. Đồi này, lán này vẫn được lưu giữ. Ai đã từng đặt chân đến lán Khau Tý không thể không ngước nhìn cây đa cổ thụ cao to xum xuê cành lá giữa những khóm hoa rừng không thể không xúc động nhất là khi nhìn cây dâm bụt Bác trồng từ năm 1947 vẫn xanh tươi, tràn trề sức sống. Trong tĩnh lặng, xa xa dưới chân đồi Khau Tý, dòng suối Nà Tra róc rách, róc rách chảy như tiếng hát xa. Nhà văn Hoàng Quảng Uyên khi đến thăm nơi này, đã rất xúc động, cảm xúc dâng trào, đột xuất có một mong muốn, một đề xuất: “Sáu mươi năm rồi, quá khứ hiện tại đan dệt. Trong mối liên tưởng đa chiều chợt dâng ước muốn nho nhỏ – giá chi dựng ở nơi đây một tấm bia đề bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ làm gần lại khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và mơ, để du khách đến đây sẽ không chỉ được thăm nơi đầu tiên Bác Hồ ở khi trở lại chiến khu Việt Bắc mà còn thăm nơi đầu tiên của nhà thơ Hồ Chí Minh, nơi nhà thơ sáng tác bài Cảnh khuya trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, thả hồn ngẫm ngợi trong sự hòa quyện giữa lịch sử và thơ. Sáng trong và linh thiêng”(1).

Lê Xuân Đức

(1) Báo Văn nghệ số 03 ngày 20-1-2007.

3 Bài Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác / 2023

Share

Facebook

Twitter

Pinterest

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 1 PHÂN TÍCH BÀI “VIẾNG LĂNG BÁC” – VIỄN PHƯƠNG LỚP 9

Năm 1976,  Bắc- Nam hai miền đã thống nhất, đất nước ta độc lập, hòa bình. Nhưng vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc thì đã về với cõi mây trắng. Cũng năm ấy, nhà thơ Viễn Phương từ miền Nam ra thăm Bác và bài thơ “ Viếng lăng Bác” là nén tâm hương ông thành kính dâng lên Người.

Mở đầu bài thơ là một câu thơ tự sự:

“Con ở miền Nam ra thăm Bác”

Cách xưng hô của nhà thơ là “con” và “Bác”, đây là cách xưng hô rất ngọt ngào và thân thương. Nhà thơ đã vượt khoảng cách về không gian để được gần hơn trong khoảng cách về tâm trạng. Nén nỗi đâu mất mát, ly biệt giữu kẻ dương- người âm, nhà thơ không dung từ “viếng” mà dung từ “thăm” nhưng câu thơ đọc lên vẫn nghẹn ngào!

Đến thăm lăng Bác, nhà thơ nhìn thấy:

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát”

Đến lăng Bác, nhà thơ bắt gặp một hình ảnh rất quen thuộc đó là cây tre. Tre đã trở thành biểu tương của con người Việt Nam và bởi vậy dù cây tre phải chịu “ bão táp mưa sa” nhưng tre vẫn thẳng hang. Thành ngữ “ bão táp mưa sa” để chỉ những khó khan và cây tre hay cũng chính là hình ảnh ẩn dụ cho sức sống của con người Việt Nam.

Tiếp đó, nhà thơ có một liên tưởng:

“ Ngày ngày mặt trời đi qua lăng Bác

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Hai câu thơ được tạo bởi hai hình ảnh song đôi là “mặt trời đi qua lăng Bác” và “mặt trời trong lăng”. “Mặt trời đi qua lăng Bác” là chỉ mặt trời của tự nhiên còn “ mặt trời trong lăng” hay cũng chính là Bác. So sánh Bác với mặt trời tự nhiên, nhà thơ thể hiện sự ngợi ca công lao của người: nếu mặt trời của tự nhiên ngày ngày đem ánh sáng, đem lại sự sống cho vạn vật thì Người giúp chúng ta đi qua những cuộc kháng chiến trường kì, đem lại hòa bình và độc lập. Mặt trời của tự nhiên và vĩnh hằng thì Người tuy đã về với cát bụi cuộc đời nhưng vẫn sẽ mãi sống trong trái tim mỗi  người dân, mỗi thế hệ Việt Nam.

Bởi vậy, ngày ngày dòng người mới nối tiếp nhau về thăm Bác. Và tác giả so sánh “ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chin mùa xuân”. Cách so sánh đã diễn tả tấm lòng mà nhân dân dành cho Bác. “Tràng hoa” là hình ảnh chỉ người dân trên mọi miền Tổ quốc về đây viếng Bác…

“ Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”

Cả một cuộc đời của Bác đã dành cho đất nước Việt Nam… Giờ đây, nhà thơ mong rằng khi đã về với cõi vĩnh hằng, Người sẽ yên ngủ…Hình ảnh so sánh Bác như “ vầng trăng sáng dịu hiền” là một hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao, dịu dàng của Bác.

Tiếp đó là hình ảnh ẩn dụ “trời xanh” để chỉ sự bất tử của Người nhưng ngay sau đó, nhà thơ vẫn không kìm nén được cảm xúc “ Mà sao nghe nhói trong tim”.

Khi phải rời xa lăng Bác, nhà thơ nghẹn ngào:

“ Mai về miền Nam thương trào nước mắt”

Câu thơ bộc lộ rất rõ xúc cảm của Viễn Phương. Và nhà thơ mong ước rằng:

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”

Điệp ngữ “muốn làm” cùng các hình ảnh “cây tre”, “con chim”, “cây tre trung hiếu” thể hiện những ước muốn tha thiết của nhà thơ, muốn làm để có thể ở bên Người…

Tình cảm của Viễn Phương dành cho Bác dường như không có từ ngữ nào có thể diễn tả hết. Là những người sống trong thời bình, chúng ta hãy biết trân trọng, biết cố gắng đóng góp một phần sức mình vào sự nghiệp chung của Tổ quốc  để tỏ lòng biết ơn đối với Người, với thế hệ đi trước…

Lăng Bác Hồ nhìn từ phía chính diện

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 PHÂN TÍCH BÀI THƠ VIẾNG LĂNG BÁC LỚP 9 HAY NGẮN GỌN

Viễn Phương là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam với hồn thơ nhẹ nhàng, man mác, bâng khuâng. Thơ ông với sự tinh tế trong cách thể hiện cảm xúc, sự giản dị mộc mạc trong từng lời thơ đã lay động bao trái tim độc giả. Trong sự nghiệp văn chương của ông, ta không thể không nhắc tới bài thơ “Viếng lăng Bác”- dòng cảm xúc đầy xúc động của tác giả khi được ra thăm lăng Bác với tấm lòng thành kính thiêng liêng.

” Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát”

Từ miền Nam xa xôi, tác giả ra thăm lăng Bác mang theo tình cảm của hàng triệu đồng bào miền Nam đang dõi theo Người. Cách xưng hô thân mật như một người con với người cha già vĩ đại của cả dân tộc. Nỗi xúc động nghẹn ngào như tiếng khóc nấc bật ra khi có thể thỏa khát vọng được gặp Bác. Trong làn sương sớm mờ ảo hiển hiện hàng tre xanh bát ngát:

” Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”

Từ xưa đến nay, cây tre vốn là biểu tượng của người dân Việt Nam, cho tinh thần bất khuất, hiên ngang. Dù có trải qua “bão táp mưa sa” nhưng họ vẫn đoàn kết một lòng cùng nhau đứng lên. Từ láy “xanh xanh” đã khẳng định con người Việt Nam sẽ luôn luôn “xanh”màu xanh bất diệt. tiếp nối truyền thống của cha anh đi trước, các thế hệ sau cũng sẽ luôn hiên ngang, bất khuất trước mọi mưa gió cuộc đời.

Đi dần vào lăng Bác theo đoàn người, nỗi xúc động của tác giả càng trào dâng:

 ” Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Trong cảm nhận của tác giả, của người dân Việt Nam, Bác Hồ như vầng mặt trời chói sáng, đem ánh sáng rực rỡ ấy chiếu sáng cuộc đời đầy tăm tối của dân tộc ta, cứu người dân ra khỏi ách nô lệ.  Bác mang nguồn sáng của cách mạng soi rọi con đường giải phóng của dân tộc, là ánh sáng ấm áp trong mỗi trái tim chúng con. Ánh sáng mà Bác chiếu rọi cho dù mặt trời thiên nhiên cũng không thể sánh bằng. Bằng lối nói ẩn dụ tinh tế, Viễn Phương đã bày tỏ lòng tôn kính tới Bác Hồ- vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.

Chúng con từ khắp nơi tới thăm Bác. Dòng người cứ lặng lẽ “ đi trong thương nhớ”, thương nhớ người đã hi sinh cả cuộc đời vì chúng con. Ta như thấy được cả sự tĩnh lặng, sự trải dài vô tận của đoàn người tiến vào lăng Bác qua cách sử dụng từ ngữ tinh tế của nhà thơ. Trong đoàn người ấy có cả tác giả cùng đem tấm lòng kính yêu vô ngần dâng lên Bác, kết lại thành vòng hoa dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân” mà Bác đã cống hiến tất cả cho dân tộc. Nhà thơ bày tỏ nỗi niềm biết ơn của mình với công lao to lớn của Bác đã hi sinh cho đất nước.

Dòng cảm xúc của nhà thơ lịa trào dâng khi nhìn thấy hình ảnh Bác:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim.”

Cuộc đời Bác luôn đau đáu lo lắng cho đất nước, đến khi miền Nam giải phóng, đất nước đã hòa bình rồi thì Bác cũng không còn ở cùng với nhân dân nữa. Cách nói giảm nói tránh nhằm làm với nỗi đau xót xa trước sự thật Bác đã ra đi mãi mãi. Hình ảnh Bác như vầng trăng sáng dịu hiền trong giấc ngủ bình yên tượng trưng cho vẻ đẹp thanh thản, phong thái ung dung và thanh cao của Bác. Người vẫn còn sống mãi, sống trong tiềm thức, trong trái tim của người dân Việt Nam, bất tử như “trời xanh”. Thế nhưng nhìn di hài của Bác, nhìn Bác lặng yên nằm đó, dù đã thấy đó chỉ là giấc ngủ êm đềm nhưng vẫn không sao xua đi cảm xúc xót xa, vẫn “nghe nhói ở trong tim”. Bác đã ra đi mãi mãi, đó là hiện thực mà ta phải đối mặt. Nỗi đau xót của cả dân tộc vẫn không thể nào xóa nhòa.

Dù vẫn còn trong lăng Bác, ngắm nhìn hình ảnh Bác nằm lặng yên nơi đó, tác giả vẫn không khỏi xúc động lưu luyến khi nghĩ tới ngày mai phải rời xa Bác, dòng cảm xúc tuôn trào thành dong nước mắt. Khi đó, cảm xúc mãnh liệt trong tâm hồn đã khiến tác giả khát khao ước nguyện:

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”

Nhà thơ muốn làm con chim hót quanh lăng Bac, dâng hiến tiếng hót cho Bác, muốn làm đóa hoa tỏa hương sắc nơi Bác yên nghỉ, muốn làm cây tre trung hiếu canh giữa cho giấc ngủ bình yên của Bác. Viễn Phương muốn hóa thành những thứ nhỏ bé đẹp đẽ để bên Bác. Tác giả đã sử dụng điệp ngữ “muốn làm” thể hiện khát khao, ước nguyện mãnh liệt của mình để được bên Bác, đền đáp công ơn to lớn của Người.

Bài thơ với cảm xúc sâu lắng, hàm súc, ngôn ngữ tinh tế chính là tấm lòng yêu thương, kính trọng và biết ơn Bác. Đó không chỉ là tâm tình của tác giả mà còn là tâm tình của mỗi người dân Việt Nam và của cả dân tộc.

KHi tới tham quan viếng lăng Bác bạn sẽ được tham quan nguyên quần thuể gồm lăng, chùa một cột, nhà sàn, bảo tàng…. nên mặc quần áo lịch sự

BÀI VĂN MẪU SỐ 3 PHÂN TÍCH BÀI THƠ “VIẾNG LĂNG BÁC”

Cảm nhận thơ ca Viễn Phương, nhà văn Mai Văn Tạo từng nhận xét: “Thơ Viễn Phương dễ nhớ, giàu cảm xúc, nhưng không bi lụy, cường điệu nỗi đau…”. Cảm nhận những câu thơ, hình ảnh thơ trong “Viếng lăng Bác”, ta càng thấm thía hơn lời nhận xét chân thành này. Một cách nhẹ nhàng, chân thành và giản dị, bài thơ đã gieo vào lòng người đọc nhiều thế hệ biết bao tình cảm, cảm xúc mãnh liệt, dạt dào.

Viễn Phương tên thật là Phan Thanh Viễn, một Đảng viên ưu tú của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cũng là một nhà thơ nổi bật với nhiều tác phẩm ấn tượng. Tài sản thơ ca của ông có thể kể đến như: trường ca “Chiến thắng Hòa Bình”, truyện và kí “Quê hương địa đạo”, thơ “Phù sa quê mẹ”…Cảm nhận thơ Viễn Phương, có rất nhiều cây bút khác dành nhiều lời khen ngợi. Nhà văn Mai Văn Tạo từng nói: “Thơ Viễn Phương nền nã, thì thầm, man mác, bâng khuâng, day dứt, không gút mắt, cầu kỳ, kênh kiệu, khoa ngôn. Hình ảnh nào trong đời sống anh cũng tìm thấy chất thơ…”. Bài thơ “Viếng lăng Bác” được nhà thơ viết trong chuyến ra thăm lại miền Bắc năm 1976. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nước ba miền thống nhất, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành, những cảm xúc trào dâng mãnh liệt ngày vào lăng viếng Bác đã thổi hồn để nhà thơ chắp bút gửi cảm xúc vào từng câu chữ, hình ảnh.

Khổ thơ mở đầu là những cảm xúc bồi hồi của tác giả khi đứng trước lăng:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”

Câu thơ đầu gợi ra niềm xúc động nghẹn ngào của một người con từ miền Nam ra thăm lăng Bác. Tiếng xưng hô “con” đượm nét gần gũi, thắm thiết và chứa chan tình cảm. Nổi bật trong đoạn thơ là hình ảnh ẩn dụ đa nghĩa “hàng tre xanh xanh Việt Nam/ Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”. Trước hết, nhà thơ gợi người đọc liên tưởng đến hình ảnh rặng tre xanh thân thuộc của làng quê, đất nước, đượm tinh thần, tâm hồn Việt. Bên cạnh nghĩa thực đó, ta còn hiểu tre tượng trưng cho khí chất, tinh thần hiên ngang, bất khuất, sự thẳng thắn kiên trung của con người Việt Nam mà nhà thơ khéo léo gửi gắm.

Những dòng thơ tiếp theo chan chứa niềm thương nhớ, kính yêu tác giả dành cho Bác:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Nhà thơ tiếp tục vận dụng tinh tế phép ẩn dụ trong khổ thơ với hình ảnh mặt trời, mặt trời thiên nhiên và hình ảnh Người sóng đôi. Nếu như mặt trời thiên nhiên đem đến ánh sáng, sự sống cho muôn loài trên vũ trụ thì Bác, một mặt trời rực rỡ của nhân dân, lại đem đến nguồn sống, ánh sáng tự do và ắm đầy niềm hạnh phúc ấm no. Hình ảnh “ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ” đã diễn tả chân thực và xúc động những tình cảm thương kính nhân dân dành cho Bác. Hình ảnh “kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” trong đoạn thơ là kết tinh bao tình cảm và ý nghĩa đẹp đẽ. Nhà thơ tái hiện một hình ảnh thực, hình ảnh đoàn người xếp hàng vào lăng viếng Bác nhưng đó còn là một hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo ngầm gợi nhắc rằng lý tưởng, con đường và tình yêu Bác dành cho nhân dân đã thắp sáng tinh thần, làm cho cuộc đời “nở hoa” dưới ánh sáng rực rỡ của Cách mạng.

Niềm biết ơn thành kính, lòng nhớ thương tha thiết giờ đã chuyển thành nỗi nghẹn ngào xúc động khi được nhìn thấy Bác:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim”

“Vầng trăng sáng dịu hiền”, phải chăng đó chính là vầng trăng trong thơ Bác, gợi nhắc ta nghĩ đến tâm hồn thanh cao, tài thơ ca và tình yêu của Bác dành cho văn học. Câu thơ Viễn Phương đem đến cho người đọc cảm giác rằng ở Bác, ta bắt gặp sự giản dị gần gũi và cũng rất vĩ đại, thanh cao. Nỗi lòng “nghe nhói ở trong tim” vừa thể hiện nỗi đau xót nhưng cũng gợi niềm xót thương tê tái trong trái tim biết bao người dân đất Việt, những người cùng vào lăng thăm Bác như tác giả, và cả những người gặp Bác qua trang thơ của ông.

Những câu thơ cuối bài là niềm lưu luyến, bịn rịn của người con miền Nam khi phải trở về:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Câu thơ đầu như lời giã biệt giản dị mà chứa chan bao nỗi niềm bâng khuâng. Nhà thơ bộc lộ ước nguyện chân thành của mình qua điệp từ “muốn làm” khắc họa sự khát khao, da diết kết hợp cùng những hình ảnh “chim”, “cây tre”, “đóa hoa”. Một lần nữa nhắc lại hình ảnh cây tre, “cây tre trung hiếu” ấy biểu tượng cho nét đẹp tâm hồn con người Việt Nam. Sử dụng hình ảnh đó là một cách khéo léo khép lại bài thơ nhưng đồng thời cũng tựa như một lời hứa, lời khẳng định về trách nhiệm của bản thân, của nhân dân trong việc tiếp nối sự nghiệp của Người.

Viết về Bác, mỗi nhà thơ lại gửi gắm một nỗi niềm riêng qua những cách thể hiện riêng. Với Viễn Phương, ông đã gửi tới người đọc một “Viếng lăng Bác” giản dị mà thấm đẫm niềm nghẹn ngào, xúc động. Những câu thơ, hình ảnh, nhịp điệu thơ…được kết hợp một cách khéo léo đã tái hiện rõ nét hình ảnh và truyền tải chân thực cảm xúc đến người đọc, khiến ta càng thêm yêu mến tâm hồn và thơ ca Viễn Phương.

Từ khóa tìm kiếm:

bài văn phân tích bài thơ viêng lăng bác của viễng phưong ngắn nhất

phân tích bài thơ viếng lăng bác ngắn gọn nhất

viếng lăng bác phân tích ngắn

phân tích bài thơ viếng lăng bác ngắb

phân tích bài thơ viếng lăng bác ngắn gọn

phân tích bài thơ viếng lăng bác ngắn nhất