Top 2 # Ý Nghĩa Bài Thơ Hai Sắc Hoa Tigôn Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Hai Sắc Hoa Tigôn

chúng tôi là bút danh của một nhà thơ ẩn danh trong phong trào Thơ mới (1930-1945), hiện vẫn chưa rõ lai lịch, giới tính cụ thể. Nhiều nhà văn và nhà thơ cho rằng đây là Trần Thị Khánh, tác giả bài thơ “Hai sắc hoa Ti-gôn” nổi tiếng, một số khác cho rằng tác giả tên thật là Phạm Thị Sứ, một nữ sinh trường Đồng Khánh tại Hà Nội. Một giả thuyết khác chỉ ra nhà thơ Thâm Tâm đã sáng tác ra bài thơ, nhờ một người em gái đến tòa soạn đăng với tên T.T.K.H. và người phụ nữ đó là Trần Thị Khánh.

Vào khoảng 6/1937, báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn “Hoa ti-gôn” của ký giả Thanh Châu. Theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một thiếu nữ.

Sau đó không lâu, toà soạn nhận được của một người thiếu phụ trạc 20, dáng bé nhỏ, thùy mi, nét mặt u buồn, mang đến một bì thơ dán kín gửi cho chủ bút, trong đó chỉ gọn một bài thơ “Hai sắc hoa ti-gôn”, dưới ký tên chúng tôi Khi thiếu phụ đi rồi, tòa soạn xem thơ nhận thấy thi phẩm ghi lại cảnh tình đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh thiếu phụ kiạ Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.

Câu chuyện “Hoa ti-gôn” đã khơi lại mối tình xưa mà người thiếu phụ (T.T.Kh.) đã từng yêu một người và từng trao lời gắn bó dưới dàn hoa ti-gôn. Rồi chàng ra đi; nàng ở lại và nhận một mối tình gượng ép. Nàng đã làm bài thơ để giải toả niềm tâm sự.

Trong “Hai sắc hoa ti-gôn”, tác giả thuật lại câu chuyện tình giữa nàng và chàng nghệ sĩ trót đã yêu nhau, song hoàn cảnh trái ngang, nàng phải gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một ông chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời quá khứ.

Sau bài thơ nầy, toà soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại nhận được bằng đường bưu cục 3 tác phẩm khác cũng mang tên chúng tôi Đó là các bài “Bài thơ thứ nhất”, “Bài thơ đan áo” (riêng đăng ở Phụ nữ thời đàm) và “Bài thơ cuối cùng “.

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của chúng tôi nữa và không hiểu tại sao bài “Hai sắc hoa ti-gôn” lại xuất hiện trước “Bài thơ thứ nhất”.

Từ lúc T.T. Kh. góp mặt vào làng thi ca tiền chiến, người tă đã tốn biết bao công phu đi tìm hiểu về T.T. Kh. Không ai biết được tên thật cũng như quê quán của nàng. Có người cho nàng là Trần Thi Khánh, một nữ sinh phố Sinh Từ, Hà nội Có kẻ cho cô là người yêu của ký giả Thanh Châu, hay đây chỉ là một nhân vật trong tưởng tượng của ông nhằm lâm ly hoá hay thi vi hoá một mối tình tưởng tượng. Rồi, các thi sĩ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và J. Leiba cũng nhận chúng tôi là người yêu của mình! Kể từ đó, dù cho các nhà văn tốn không biết bao giấy mực nhưng họ vẫn không biết gì hơn về nàng.

Về hoa ti-gôn (antigone in French): loại hoa dây đẹp, không thơm, có hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu trắng và hồng; ở miền Nam VN gọi là hoa nho vì lá giống lá nho. Tác giả mượn ý màu trắng là màu trinh bạch, ngây thơ khi nàng còn nhỏ dại, và hồng là màu mà nàng phải trải qua những sự đau khổ trong tình trường khi con tim nàng tan vỡ …

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn, Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc, Tôi chờ người đến với yêu đương.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi, Thở dài trong lúc thấy tôi vui, Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ, Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

Đâu biết lần đi một lỡ làng, Dưới trời đau khổ chết yêu đương. Người xa xăm quá! – Tôi buồn lắm, Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

Từ đấy, thu rồi, thu lại thu, Lòng tôi còn giá đến bao giờ Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ… Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Sự Huyền Bí Của Tác Giả Bài Thơ: Hai Sắc Hoa Tigôn

Bài thơ: Hai sắc hoa Tigôn của tác giả TTKH đến hôm nay người ta vẫn chưa biết được chính xác TTKH tên thật là gì, hiện nay còn sống hay đã chết, đã làm hao tốn giấy mực của rất nhiều nhà nghiên cứu của nhiều thập niên qua, như một huyền thoại.

Xin mạn phép trích đăng gửi tới các bạn bài viết nghiên cứu về T.T.K.H của Trần Đình Thu:

T.T.K.H là một câu chuyện chưa từng có trong lịch sử văn chương. Đó là câu chuyện về một thi sĩ bí ẩn bỗng nhiên tung lên thi đàn mấy bài thơ tình tuyệt tác làm ngẩn ngơ độc giả rồi lặng lẽ biến mất trong cái bàng hoàng sửng sốt của người yêu thơ.

Bảy mươi năm đã trôi qua kể từ ngày xảy ra câu chuyện kỳ lạ ấy. Rất nhiều người đã tìm cách vén lên bức màn bí ẩn của câu chuyện nhưng hầu như chưa ai làm thỏa mãn độc giả. Còn người yêu thơ vẫn luôn khát khao được biết sự thật: T.T.K.H là ai và đã vì ai mà sáng tác nên những áng thơ tình đặc sắc đó? Việc tìm kiếm con người thật của T.T.K.H thành ra vẫn rơi vào vòng lẩn quẩn trong bao nhiêu năm qua, khiến câu chuyện thêm nhuốm màu huyền thoại.

Câu chuyện T.T.K.H bắt đầu vào tháng 7/1937, khi tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy đăng một truyện ngắn mang tên Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu. Hoa ti gôn là một truyện ngắn không có gì đặc sắc nhưng nhẹ nhàng và bay bổng. Truyện ký thác một tâm sự khắc khoải, nhớ nhung hoài niệm. Hình ảnh dây hoa ti gôn được lặp đi lặp lại nhiều lần như muốn khơi gợi một điều gì đó không tiện nói ra. Tác giả của nó – nhà văn Thanh Châu, khi đó là một chàng trai trẻ 25 tuổi, vừa quyết định bước vào nghiệp văn chương. Chàng cũng vừa trải qua một chuyện tình buồn.

Hai tháng sau ngày Thanh Châu đăng truyện ngắn nói trên, một sự kiện đặc biệt xảy ra. Vào tháng 9/1937, tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy nhận được một bài thơ của một tác giả ký tên là T.T.K.H. Đó là bài Hai sắc hoa ti gôn, được đăng vào ngày 23/9/1937. Gần hai tháng sau, tòa soạn lại nhận được một bài thơ nữa. Bài thơ này có tựa đề là Bài thơ thứ nhất dù đó là bài thơ thứ hai gửi đến. Bài này được đăng trên số báo ngày 20/11/1937. Và một năm sau nữa, tòa soạn nhận thêm bài Bài thơ cuối cùng. Bài này được đăng trên số báo ra ngày 30/10/1938.Từ đó, tuần báo Tiểu thuyết Thứ Bảy không còn nhận thêm bài thơ nào của con người bí ẩn này nữa. Ngược lại, có một bài thơ cũng ký tên T.T.K.H gửi đến một tờ báo khác. Đó là Bài thơ đan áo.

Những bài thơ mang tên T.T.K.H đã làm cho độc giả bàng hoàng sửng sốt. Nhưng tác giả của nó đã lặng lẽ rời bỏ văn đàn, không bao giờ xuất hiện ở đâu nữa. Không ai biết một chút gì về con người bí ẩn này. Nghi án văn học T.T.K.H từ đó bắt đầu…

Năm 1942, Hoài Thanh – Hoài Chân xuất bản Thi nhân Việt Nam lần đầu tiên, T.T.K.H đã được đưa vào tập sách quan trọng này. Song song đó, nhiều người lại liên tục công bố những thông tin về T.T.K.H. Nào Thâm Tâm, nào Nguyễn Bính, nào em gái nhà thơ Tế Hanh, nào là Trần Thị Khánh… Rất nhiều “ứng viên”.

T.T.K.H có phải là Bà Trần Thị Vân Chung? Bà sinh năm 1919 tại Thanh Hóa. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, lớn lên lập gia đình với một người đỗ cử nhân luật, có lúc làm quan tri huyện, về sau làm đến chức Tổng trưởng Quốc phòng trong chế độ Sài Gòn. Về văn chương, bà Vân Chung là người thường hay làm thơ, viết văn với bút danh Vân Nương, Tam Nương… Bà tham gia nhóm thơ Quỳnh Dao – nhóm thơ của những người phụ nữ đài các trưởng giả lúc trước ở miền , thường làm thơ xướng họa với nhau như một sinh hoạt tinh thần. Nữ sĩ Mộng Tuyết cũng là một trong những chủ soái của nhóm thơ này. Bà đã có một số thơ đăng trên các báo ở Sài Gòn trước năm 1975. Năm 1986, bà cùng các con xuất cảnh sang Pháp. Bà vẫn tiếp tục làm thơ đăng trên các tạp chí tiếng Việt ở nước ngoài. Bà Vân Chung chính là người yêu của nhà văn Thanh Châu, tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn.

T.T.K.H là ai, vì ai mà để lại cho đời những vần thơ xao xuyến cõi lòng ấy. Chính khi xưa, Hoài Thanh cũng đã từng nhắc trong Thi nhân Việt : “Bốn năm đã qua từ ngày tờ báo vô tình hé mở cho ta một cõi lòng. Ai biết “con người vườn Thanh” bây giờ ra thế nào? Liệu rồi đây người có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối?”. Cho đến nay, đã qua bảy mươi năm, có lẽ người đã quyết định “ôm nỗi buồn riêng về nơi chín suối” rồi.

Bí Mật…Bật Mí Về Bài Thơ “Hai Sắc Hoa Tigon” Của

T.T.Kh là một câu chuyện chưa từng có trong lịch sử văn chương. Đó là câu chuyện về một thi sĩ bí ẩn bỗng nhiên tung lên thi đàn mấy bài thơ tình tuyệt tác làm ngẩn ngơ độc giả rồi lặng lẽ biến mất trong cái bàng hoàng sửng sốt của người yêu thơ. Bảy mươi năm đã trôi qua kể từ ngày xảy ra câu chuyện kỳ lạ ấy. Rất nhiều người đã tìm cách vén lên bức màn bí ẩn của câu chuyện nhưng hầu như chưa ai làm thỏa mãn độc giả. Còn người yêu thơ vẫn luôn khát khao được biết sự thật: chúng tôi là ai và đã vì ai mà sáng tác nên những áng thơ tình đặc sắc đó?

Có một số nhân vật được các nhà sưu tầm đưa ra để giả định rằng đó là chúng tôi Nam giới có, phụ nữ có. Trong số những “nghi can” có hai nhà thơ nổi tiếng là Thâm Tâm và Nguyễn Bính. Độc giả tưởng như đã lần ra được tung tích của con người kỳ lạ này nhưng sự thực không phải như vậy. Bởi tất cả những thông tin đưa ra đều do lời người khác kể lại. Còn bản thân những người như Thâm Tâm, Nguyễn Bính chưa bao giờ có phát biểu chính thức nhận mình là chúng tôi Vì thế, tuy người kể cũng là người có uy tín trong làng văn làng báo nhưng độc giả vẫn thấy mơ hồ khó tin. Việc tìm kiếm con người thật của chúng tôi thành ra vẫn rơi vào vòng lẩn quẩn trong bao nhiêu năm qua, khiến câu chuyện thêm nhuốm màu huyền thoại.

Kieuphong Bằng cách phân tích các hình ảnh, biểu tượng, tình tiết văn học, thói quen sử dụng ngôn ngữ trong thơ, trong truyện ngắn…, tác giả Trần Đình Thu đưa ra một cách làm mới: so sánh đối chiếu với những người được cho là chúng tôi lâu nay để nhận xét xem ai là người phù hợp nhất. Đó là cách làm khá đặc biệt so với những nhà sưu tầm khác trước đây chỉ hoàn toàn dựa vào lời kể của nhân chứng. Vì thế, xin giới thiệu loạt bài viết trích từ bản thảo cuốn sách Giải mã nghi án văn học chúng tôi chưa xuất bản của tác giả để bạn đọc tham khảo.

Về hoa ty-gôn (antigone in French): loại hoa dây đẹp, không thơm, có hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu trắng và hồng; ở miền Nam VN gọi là hoa nho vì lá giống lá nhọ Tác giả mượn ý màu trắng là màu trinh bạch, ngây thơ khi nàng còn nhỏ dại, và hồng là màu mà nàng phải trải qua nhữg sự đau khổ trong tình trường khi con tim nàng tan vỡ…

Có thể nhiều bạn đọc đã biết, đã thuộc làu thơ chúng tôi nhưng vẫn có một số người khác chưa nắm rõ câu chuyện như thế nào. Vì thế, trước khi bước vào phân tích lý giải, Kieuphong chúng tôi xin dẫn lại toàn bộ câu chuyện này một cách có hệ thống. Câu chuyện chúng tôi bắt đầu vào tháng 7/1937, khi tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy đăng một truyện ngắn mang tên Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu. Nội dung truyện ngắn được tóm tắt như sau:

Có một họa sĩ nghèo mới ra trường. Trong một lần đi tìm cảnh vẽ, chàng đã gặp một thiếu nữ đang hái hoa ti gôn trong vườn. Từ đó, chàng đâm ra mê người đẹp, luôn đạp xe vào làng để ngắm trộm nàng hái hoa.

Năm tháng qua đi, chàng họa sĩ trở nên nổi tiếng. Tranh vẽ của chàng bán được giá rất cao. Họa sĩ trở nên giàu có. Một mùa đông, chàng đi vẽ ở một vùng nọ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ. Chàng ngờ ngợ như đã từng gặp người này ở đâu. Cuối cùng nhớ ra, nàng chính là cô gái hái hoa ngày ấy. Trong khi khiêu vũ với nàng, chàng nhắc lại chuyện cũ. Nàng vô cùng ngạc nhiên.

Nàng kể chuyện cuộc đời mình cho chàng nghe. Nàng lấy một người chồng môn đăng hộ đối nhưng cuộc hôn nhân quá tẻ nhạt. Từ đó, nàng hay lui tới chỗ họa sĩ trọ để chơi và để chàng vẽ cho một bức chân dung. Chuyện gì đến đã đến. Một buổi sáng, hai người đi chơi ở một ngôi chùa trên đỉnh núi, chàng đã tỏ nỗi lòng mình. Nàng đáp lại tình yêu của chàng.

Chàng bàn với nàng trốn đi Nhật để chung sống với nhau. Nàng nhận lời. Chàng về Hà Nội, sắp đặt xong mọi việc thì nhận được thư nàng vào giờ chót. Nàng từ chối chuyến đi vì không đủ can đảm vượt qua. Trong thư, một dây hoa ti gôn nhỏ ép rơi ra. Chàng nhìn những nụ hoa hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu, lặng lẽ hôn lên những cánh hoa và khóc.

Bốn năm sau, một hôm chàng nhìn thấy trên bàn mình một phong thư viền đen. Mở ra xem thì đó là của người chồng nàng báo tin nàng đã chết. Chàng đáp xe lửa đến nơi để đặt lên mộ nàng dây hoa quen thuộc. Từ đó, chàng luôn mua hoa ti gôn về đặt trong phòng mình.

là một truyện ngắn không có gì đặc sắc nhưng nhẹ nhàng và bay bổng. Truyện ký thác một tâm sự khắc khoải, nhớ nhung hoài niệm. Hình ảnh dây hoa ti gôn được lặp đi lặp lại nhiều lần như muốn khơi gợi một điều gì đó không tiện nói ra. Tác giả của nó – nhà văn Thanh Châu, khi đó là một chàng trai trẻ 25 tuổi, vừa quyết định bước vào nghiệp văn chương. Chàng cũng vừa trải qua một chuyện tình buồn.

Hai tháng sau ngày Thanh Châu đăng truyện ngắn nói trên, một sự kiện đặc biệt xảy ra. Vào tháng 9/1937, tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy nhận được một bài thơ của một tác giả ký tên là chúng tôi Đó là bài Hai sắc hoa ti gôn, được đăng vào ngày 23/9/1937

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc, Tôi chờ người đến với yêu đương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng Dải đường xa vút bóng chiều phong Và phương trời thẳm mờ sương, cát, Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi Thở dài những lúc thấy tôi vui Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ, Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

Thuở đó, nào tôi đã biết gì Cánh hoa tan tác của sinh ly Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng Là chút lòng trong chẳng biến suy”

Đâu biết lần đi một lỡ làng, Dưới trời đau khổ, chết yêu đương. Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm, Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

Từ đấy thu rồi, thu, lại thu, Lòng tôi còn giá đến bao giờ? Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ… Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời Ái ân lạt lẽo của chồng tôi, Mà từng thu chết, từng thu chết Vẫn dấu trong tim bóng “một người”

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa Sắc hồng tựa trái tim tan vỡ Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi Một mùa thu trước rất xa xôi… Đến nay tôi hiểu thì tôi đã, Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ, Chiều thu, hoa đỏ rụng. Chiều thu Gió về lạnh lẽo chân mây vắng, Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng Trời ơi! Người ấy có buồn không? Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ? Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

Bài thơ Hai sắc hoa ti gôn đã gây nên xúc động lớn trong lòng người yêu thơ bởi những câu thơ quá da diết. Giới văn nghệ xôn xao. Gần hai tháng sau, tòa soạn lại nhận được một bài thơ nữa. Bài thơ này có tựa đề là Bài thơ thứ nhất dù đó là bài thơ thứ hai gửi đến. Bài này được đăng trên số báo ngày 20/11/1937.

Và một năm sau nữa, tòa soạn nhận thêm bài Bài thơ cuối cùng. Bài này được đăng trên số báo ra ngày 30/10/1938.

Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ ? Một mùa thu cũ, một lòng đaụ.. Ba năm ví biết anh còn nhớ, Em dã câm lời, có nói đâu !

Đã lỡ, thôi rồi ! chuyện biệt ly, Càng khơi càng thấy lụy từng khị Trách ai mang cánh “ty-gôn” ấy, Mà viết tình em, được ích gì ?

Chỉ có ba người đã đọc riêng, Bài thơ “đan áo” của chồng em. Bài thơ “đan áo” nay rao bán, Cho khắp người đời thóc mách xem…

Là giết đời nhau đấy, biết không ? ….Dưới dàn hoa máu tiếng mưa rung, Giận anh, em viết dòng dư lệ, Là chút dư hương : điệu cuối cùng !

Từ đây, anh hãy bán thơ anh, Còn để yên tôi với một mình, Những cánh hoa lòng, hừ ! đã ghét, Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi, Từng mùa gió lạnh sắc hương rơị.. Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp, Đi nhớ người không muốn nhớ lời !

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây, Tôi run sợ viết, bởi rồi đây Nếu không yên được thì tôị..chết Đêm hỡi ! làm sao tối thế nầy ?

Năm lại năm qua cứ muốn yên Mà phương ngoài gió chẳng làm quên; Và người vỡ lỡ duyên thầm kín, Lại chính là anh ? anh của em !

Tôi biết làm sao được hỡi trời ? Giận anh, không nỡ ! Nhớ không thôi ! Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt… Sợ quá đi, anh…”có một người” !…

Từ đó, tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy không còn nhận thêm bài thơ nào của con người bí ẩn này nữa. Ngược lại, có một bài thơ cũng ký tên chúng tôi gửi đến một tờ báo khác. Đó là Bài thơ đan áo.

Những bài thơ mang tên chúng tôi đã làm cho độc giả bàng hoàng sửng sốt. Nhưng tác giả của nó đã lặng lẽ rời bỏ văn đàn, không bao giờ xuất hiện ở đâu nữa. Không ai biết một chút gì về con người bí ẩn này. Nghi án văn học chúng tôi từ đó bắt đầu…

Năm 1942, Hoài Thanh – Hoài Chân xuất bản Thi nhân Việt Nam lần đầu tiên, chúng tôi đã được đưa vào tập sách quan trọng này. Song song đó, nhiều người lại liên tục công bố những thông tin về chúng tôi Nào Thâm Tâm, nào Nguyễn Bính, nào em gái nhà thơ Tế Hanh, nào là Trần Thị Khánh… Rất nhiều “ứng viên”.

Câu chuyện về Thâm Tâm có khá nhiều người kể. Chẳng hạn Nguyễn Vỹ, một người có mặt trong đã viết một bài dài trên Tạp chí Thi nhân Việt Phổ Thông vào những năm 1960. Ông Vỹ cho biết, một buổi tối trên đường về nhà, ông gặp Thâm Tâm đang lang thang. Ông mời Thâm Tâm về nhà mình uống rượu. Ngà ngà say, Thâm Tâm cao hứng kể chuyện tình của mình. Thâm Tâm cho biết, người yêu của mình là một nữ sinh tên là Trần Thị Khánh. Nàng đã có lần gợi ý Thâm Tâm đến nhà hỏi cưới nhưng chàng bảo sự nghiệp chưa có gì. Bẵng đi một thời gian, một hôm chàng nhận được phong thư báo tin nàng sắp lấy chồng. Đã bị người yêu bỏ đi lấy chồng, lại còn bị đám bạn chế nhạo, Thâm Tâm đâm ra bị quê. Vì thế đã phải thức một đêm để làm một bài thơ tựa đề là Hai sắc hoa ti gôn, ký tên chúng tôi Thâm Tâm làm như vậy với dụng ý để các bạn của mình tin là của Khánh làm, cho khỏi mang tiếng bị tình phụ. Sau đó, Thâm Tâm gửi bài thơ tới tòa soạn. Về phần cô gái đó, sau khi đọc được bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, liền viết thư phản đối Thâm Tâm kịch liệt. Thâm Tâm bèn lấy những câu chữ trong bức thư này để viết tiếp các bài thơ sau này, vẫn ký là T.T.Kh…

Ngược với Nguyễn Vỹ thì một số tác giả, chẳng hạn như Hoàng Tiến, lại cho rằng chính cô Trần Thị Khánh, cô người yêu của Thâm Tâm đã sáng tác ra những bài thơ ký tên chúng tôi Một số tác giả khác còn tiến thêm một bước cụ thể hơn nữa khi cho rằng Trần Thị Khánh chính là em gái họ của nhà thơ Tế Hanh…

Với Nguyễn Bính, không thấy có những câu chuyện cụ thể như trường hợp của Thâm Tâm. Người ta chỉ dựa vào bài thơ Cô gái vườn Thanh đề tên tác giả Nguyễn Bính để cho rằng Nguyễn Bính chính là chúng tôi

Vậy chúng tôi – Nàng là ai? Vào khoảng 6/1937, báo “Tiểu thuyết thứ bảy” xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn Hoa Ti Gôn của ký giả Thanh Châu. Theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một thiếu nữ. ra Bắc mấy lần. Một lần dong ruổi, gặp đêm mưa lớn, ông ghé vào trọ tại một nhà ở vùng Thanh Hóa, được người lão bộc tiếp đãị Nhà có khu vuờn đẹp, trong nhà có cô gái trẻ ngồi quay tơ -mà ông gọi là “Người Vườn Thanh” – đã khiến ông run động, thao thức bâng quơ, nhưng nghĩ mình còn nặng kiếp giang hồ nên chưa dám tính đến chuyện tình duyên.

Sau đó không lâu, toà soạn nhận được của một người thiếu phụ trạc 20, dáng bé nhỏ, thùy mị, nét mặt u buồn, mang đến một bì thơ dán kín gửi cho chủ bút, trong đó chỉ gọn một bài thơ Hai sắc hoa ty-gôn, dưới ký tên chúng tôi Khi thiếu phụ đi rồi, tòa soạn xem thơ nhận thấy thi phẩm ghi lại cảnh tình đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh thiếu phụ kia. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.

Rồi mấy năm sau, ông lại có dịp qua vùng Thanh Hóa, bèn tìm đến chốn cũ, thì được người lão bộc năm xưa kể cho nghe “một thiên hận tình”. Thời gian lại qua đi, ông gần như đã quên câu chuyện đó, thì đọc được những bài thơ của chúng tôi xuất hiện trên báọ Ông thấy những bài thơ đó giống hệt thiên hận tình của “Người Vườn Thanh” năm nào, ông nghĩ rằng “Người Vườn Thanh” chính là T.T.Kh., và viết bài thơ “Dòng dư lệ để tặng nàng.

Mặc dầu xôn xao bàn tán và tranh dành lấy mình và lấy thơ của mình. chúng tôi đã biến mất. Cho đến muà xuân năm 1938 ngày 30 tháng 10 thì trên tiểu thuyết thứ bảy laị xuất hiện chúng tôi với Bài thơ cuối cùng. Đó là ba bài thơ mà chúng tôi đã để laị trong lòng tất cả người yêu thơ của bà. Cho đến thập kỷ 80, vẫn có người noí rằng bà còn sống và đã gặp bà, nhưng dù sao đó cũng chỉ là một lời noí mà thôi.

Vậy chúng tôi nàng là ai? Và vì ai mà làm thơ? Cái nghi vấn đã kéo daì hơn 50 năm cho đến năm 1994. Bà Đ.T.L (tạm dấu tên) đã tiết lộ cái mà thiện hạ cho là “Thiên cơ bất khả tiết lộ” cho nhà văn Thế Nhật, và đó cũng là cái chià khoá để mở cái cửa nghi vấn cho làng văn học Viet Nam.

chúng tôi là gì? T chữ thứ nhất là TRẦN T chữ thứ hai là THANH KH chữ thứ ba là KHÓC

KHÓC ở đây là khóc cho mối tình có duyên không nợ, khóc cho cái éo le cuộc đờị Tạo hoá chớ trêu kiến cho họ gặp nhau rồi đem cho họ bao nhiêu là nước mắc ngậm ngùi khi xa nhau.

THANH là Thanh Tâm. là tác giả của bài “Hoa Ti-gôn” mà tôi đã nhắc ở trên, Ông hiện cư ngụ tại Hà nội, là người đã tạo cho chúng tôi những cảm xúc để viết lên những giận hờn, thương xót, và khoc’ thương. Người đã mang nặng chữ chung, thủy với chữ tình, đã gắn bó với thơ chúng tôi với cái hồn của nàng suốt hơn 50 năm trời đằng đẵng. Môt. người mà hôm nay thân đã tàn sức đã tận, nhưng tâm hồn vẫn lâng lâng cái trẻ trung, cái nhớ thương ray rứt về cố nhân. Một người có tâm hồn cao thương và sắc đá, trước những thử thách chơ trêu của tạo hoá, nhưng laị mềm mại, đắng cay trong từng ngòi bút ông buông lợi.

TRẦN là Trần Thị Chung, (Tên thường gọi là Trần Thị Vân Chung) Sinh ngày 25-8-1919 tại thị xã Thanh Hoá, Hà Nội. Sinh trưởng trong một gia đình Quan lại thời bấy giờ, Vân Chung có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai út. Năm 1934, qua mối mai, gia đình nàng đã hứa gả nàng cho môt. luật sư (Lê Ngọc Chấn, ông đã chết sau khi mãn tù cải tạo học tập). Hiện nay bà cùng các con sinh sống ở miền nam nước Pháp trong một thị xã nhỏ và bà vẫn tiếp tục làm thơ, viết văn với nhiều bút hiệu khác khau như vân nương, tơ sương v.v…

Tôi xin gửi đến bà Vân Chung lời cảm khích vô cùng về những cống hiến của bà cho nền văn hoc. việt nam, cảm ơn nhà văn Thế Nhật, bà Đ.T.L cùng những người yêu chúng tôi Ruốt cuộc cái nghi án văn hoc. nay đã được công bố

Câu chuyện “Hoa ti-gôn” đã khơi lại mối tình xưa mà người thiếu phụ (T.T.Kh.) đã từng yêu một người và từng trao lời gắn bó dưới dàn hoa ti-gôn. Rồi chàng ra đi; nàng ở lại và nhận một mối tình gượng ép. Nàng đã làm bài thơ để giải tỏa niềm tâm sự.

Trong “Hai sắc hoa ti-gôn”, tác giả thuật lại câu chuyện tình giữa nàng và chàng nghệ sĩ trót đã yêu nhau, song hoàn cảnh trái ngang, nàng phải gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một ông chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời quá khứ.

Sau bài thơ nầy, toà soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại nhận được bằng đường bưu cục 3 tác phẩm khác cũng mang tên chúng tôi Đó là các bài Bài Thơ Thứ Nhất, Bài thơ đan áo (riêng đăng ở Phụ nữ thời đàm) và Bài thơ cuối cùng.

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của chúng tôi nữa và không hiểu tại sao bài “Hai sắc hoa ti-gôn” lại xuất hiện trước “Bài thơ thứ nhất”.

Từ lúc T.T. Kh góp mặt vào làng thi ca tiền chiến, người ta đã tốn biết bao công phu đi tìm hiểu về T.T.Kh.. Không ai biết được tên thật cũng như quê quán của nàng. Có người cho nàng là Trần Thị Khánh, một nữ sinh phố Sinh Từ, Hà nộị Có kẻ cho cô là người yêu của thi sĩ Thâm Tâm, hay đây chỉ là một nhân vật trong tưởng tượng của ông nhằm lâm ly hoá hay thi vị hoá một mối tình tưởng tượng. Rồi, ký giả Thanh Châu, các thi sĩ Nguyễn Bính và J. Leiba cũng nhận chúng tôi là người yêu của mình! Kể từ đó, dù cho các nhà văn tốn không biết bao giấy mực nhưng họ vẫn không biết gì hơn về nàng. Như ta đã thấy “Bài thơ cuối cùng”, xuất hiện vào giữa năm 1938, trong đó chúng tôi giận trách người tình cũ đã đem thơ của nàng lên mặt báọ làm lộ chuyện thầm kín “cho khắp người đời thóc mách xem”, thì không còn thấy xuất hiện bài thơ nào khác của nàng nữa.

Mãi tới 2 năm sau, vào giữa 1940, mới thấy xuất hiện bài thơ Gửi chúng tôi với bút hiệu Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình,1917-1948), có lẽ là ông ở xa vừa mới về. Ông tự nhận là người tình cũ của chúng tôi gọi nàng bằng tên “Khánh” và nhắc tên nầy tổng cộng 4 lần. Bài thơ nầy là để trả lời cho 4 bài thơ của nàng, nhưng với giọng điệu cay đắng, mỉa mai!

Ngoài ra Thâm Tâm còn 2 bài thơ khác viết cho chúng tôi như sau: Màu Máu Ty-gôn, Dang Dở

Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm gởi cho chúng tôi xuất hiện trong năm 1940. Bài thơ “Dang dở” trên đã chấm dứt “mối tình bí mật” đó. Nhưng…

Sau đó, người ta lại được “biết chút ít” về chúng tôi qua bài thơ Dòng dư lệ của Nguyễn Bính. Lúc bấy giờ ai chẳng nghỉ chúng tôi chính là người tình vườn Thanh của Nguyễn Bính. Nhưng đó chỉ là sự ngộ nhận của một kẻ si thơ chúng tôi mà thôi.

Thi sĩ Nguyễn Bính lúc còn trẻ có máu giang hồ, vào

Người ta trả lại cánh hoa tàn Thôi thế duyên tình cũng dở dang ! Màu máu Tigôn đà biến sắc Tim người yêu cũ phủ màu tang !

K. hỡi! Người yêu của tôi ơi Nào ngờ em giết chết một đời ! Dưới mồ đau khổ em ghi nhớ Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi .

Quên làm sao được thuở ban đầu, Một cánh Tigôn dạ khắc sâu ! Một cánh hoa xưa màu hy vọng ! Nay còn dư ảnh trái tim đau .

Anh biết làm sao được hỡi trời ! Dứt tình bao nỡ, nhớ không thôi ! Thôi em hãy giữ cành hoa úa Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời !

Hoa Sao Nhái: Ý Nghĩa Và Bài Thơ Hay Về Loài Hoa Này

Ngoài tên gọi hoa sao nhái thì loài hoa này còn được gọi với một số tên gọi khác như: hoa chuồn chuồn, hoa sao nháy, hoa bạn thọ tây ….

Về tên gọi khoa học thì hoa sao nhái được gọi với tên là Cosmos bipinnatus. Hoa sao nhái có họ hàng với hoa cúc Asteraceae. Loài hoa này có nguồn gốc từ Mexico, miền Nam Hoa Kỳ, Trung Mỹ và ở miền Bắc Nam Mỹ kéo rộng cho tới Paraguay.

Còn ở Việt Nam thì tùy thuộc vào điều kiện khí hậu của từng vùng mà hoa nhái được trồng nhiều ở trong sân vườn hoặc nó cũng được trồng rất nhiều ở các nơi công cộng.

Công dụng của hoa sao nhái

Với vẻ đẹp rực rỡ của loài hoa này thì nó thường được trồng chủ yếu ở trong sân vườn, ban công, sân thượng… để tăng thêm vẻ đẹp cũng như thêm màu sắc tươi mới cho không gian sống của chúng ta. Không chỉ trong nhà mà cây hoa sao nhái còn được trồng nhiều trong các khu vui chơi, công viên, các lối đi của chung cư….

Không chỉ làm đẹp không gian mà hoa sao nhái còn có mùi hương dịu nhẹ tạo cảm giác dễ chịu giúp thư giãn, thoải mái. Ngoài ra, hoa còn được dùng cắm trong bình để trang trí các căn phòng mang đến sự tươi mới và màu sắc hơn.

Một trong những công dụng nổi bật nhất của hoa sao nhái mà không phải ai cũng biết đó là thanh lọc không khí, loại bỏ các chất độc hại làm ảnh hưởng đến sức khỏe, giúp mang đến luồng không khí trong lành và tươi mát hơn.

Hoa sao nhái không chỉ được yêu thích bởi vẻ đẹp mà nó còn được yêu thích bởi những ý nghĩa riêng.

Loài hoa này mang ý nghĩa bình dị, thân thương cũng giống như chính tên gọi thân thuộc của nó vậy. Cánh hoa thì giống như cánh bướm, cánh chuồn chuồn. Với đặc điểm này nên hoa sao nhái còn được gọi với tên gọi khác là hoa bươm bướm, hoa chuồn chuồn….

Về ý nghĩa, người ta cho rằng loài hoa đẹp nhẹ nhàng này chính là biểu tượng cho tình yêu thủy chung của người con gái. Cho dù họ có bị tổn thương sâu sắc đến đâu nhưng với tinh thần mạnh mẽ thì họ vẫn luôn luôn kiên cường vươn lên để vượt qua được nỗi đau ấy để tìm được hạnh phúc mới cho riêng mình.

Nếu tặng bó hoa sao nhái cho ai đang thất tình thì đó chính là một lời an ủi, một lời khuyên và mong rằng họ đừng có chìm mãi trong đau khổ, hãy mạnh mẽ để tìm niềm vui mới, niềm hạnh phúc mới rồi cũng sẽ đến với chúng ta mà thôi.