Top 21 # Ý Nghĩa Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Soạn Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023

BÀI LÀM

TIỂU DẪN

Những nét chính về tác giả

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1492 – 1585) quê ở Hải Phòng.

Ông làm quan dưới triều Mạc.

Ông cáo quan về quê, lấy hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ. Ông mở trường dạy học.

Mặc dù về ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vân tham vấn cho triều đình nhà Mạc. Ông được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình quốc công nên có tên gọi là Trạng Trình.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc.

Ông để lại tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập (Khoảng 700 bài) và tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi (Khoảng 170 bài).

Những nét chính về tác phẩm

– Nhàn là bài thơ Nôm trong Bạch Vân quốc ngữ thi.

– Nhan đề bài thơ do người đời sau đặt.

– Nội dung bài thơ là lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

ĐỌC HIỀU VĂN BẢN

Câu 1.

Hai Câu thơ đầu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Cách dùng ố từ “một” và các danh từ trong câu thơ thứ nhất cho thấy sự giản dị trong lối sống của nhà thơ. Ông chỉ cần chiếc mai, chiếc cuốc và chiếc cần câu để câu cá theo thú vui của mình.

Nhịp điệu câu thơ chậm rãi nhưng vẫn thể hiện thấp thoáng niềm vui, cùng sự ung dung tự tại của một con người đang rất bình tâm, bình thản.

Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh sống của tác giả rất bình dị, đơn sơ. Tuy không giàu có nhưng tâm trạng ông luôn mãn nguyện, vui vẻ và hòa đồng với thiên nhiên, với tất cả mọi người xung quanh.

Câu 2.

Nơi “vắng vẻ” mà tác giả để cập đến ở đây chính là chốn bình yên, thanh bình như quê hương nơi ông đang ở. Về nghĩa bóng, nơi “vắng vẻ” còn là nơi mà không có sự ganh đua, bon chen về danh lợi, về lợi lộc.

Ngược lại, chốn “lao xao” trong ý niệm của tác giả chính là chốn quan trường, nơi mà ngày ngày người ta phải sống bon chen, phải lừa lọc, phải đấu đá lẫn nhau.

Tác giả tự nhận mình là người “dại” khi tìm nơi “vắng vẻ” để sống. Vì nơi này không có lương bổng, cũng không có kẻ hầu người hạ, chỉ hoàn toàn là cuộc sống bình dị đơn sơ như bao người dân thường khác. Còn kẻ “khôn” tìm đến chốn quan trường, chốn “lao xao” để sống với những đấu đá, những bon chen của lề luật, của quan chức, của lợi danh.

” Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao “

Sự đối lập trong hai câu thơ giữa “dại” và “khôn”, giữa “vắng vẻ” và “lao xao” đã góp phần thể hiện quan điểm và triết lý sống rất rõ ràng của tác giả. Ông không ham mê danh lợi hay tiền tài, mà chỉ cần một cuộc sống an yên, tự tại.

Câu 3.

Các sản vật và khung cảnh trong hai câu thơ 5,6 :

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

Những sản vật trong câu thơ hoàn toàn từ thiên nhiên : măng trúc, giá.

Nếp sống sinh hoạt cũng thuận theo tự nhiên : Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Chỉ hai câu thơ ngắn gọn nhưng tác giả đã trưng bày nếp sống của mình trong cả bốn mùa. Ông sống hòa hợp với thiên nhiên, đạm bạc mà thanh cao.

Giá trị nghệ thuật của hai câu thơ : Nhịp điệu câu thơ vẫn nhẹ nhàng, chậm rãi như một tiếng đàn du dương về cuộc sống bình dị và êm đềm.

Câu 4.

Hai câu thơ cuối :

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai câu thơ có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nàm ngủ gưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hèo an, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hòe phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý : phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.

Nguyễn Bỉnh Khiêm cố ý nhắc đến câu chuyện trên để ý nói đến cuộc sống hiện tại của mình. Ông không mong chi cuộc sống giàu sang phú quý, cũng chẳng mong làm quan chốn quan trường chật chội nhiều xô bồ lẫn lộn. Ông chỉ cần một cuộc sống thanh bình, giản dị và đơn sơ.

Tuy nhiên, bất cứ lúc nào có thể giúp được triều đình việc gì, ông vẫn luôn sẵn sàng tham vấn.

Câu thơ thể hiện ông không những là người có học thức uyên thâm, thấu hiểu cuộc sống chốn quan trường, mà còn là người có tâm hồn thanh cao, trong sáng và đáng kính.

Câu 5.

Quan niệm sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là :

– Không vất vả, cực nhọc

– Không quan tâm tới xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân

– Xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao.

– Hòa hợp với tự nhiên.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người có học thức, có cốt cách thanh cao. Ông sống nhàn không phải vì sợ vất vả, cực nhọc, cũng không phải để tránh những phiền lụy đến bản thân mình. Bởi ông vẫn luôn sẵn sàng tham vấn cho triều đình mỗi khi vua cần. Hơn nữa, sống ở quê, ông vẫn mở lớp dạy học với mục đích đào tạo nhân tài cho đất nước, truyền đạt cái hay cái đẹp cho học trò. Đó là một cuộc sống rất bình dị mà thanh cao, rất đáng trân trọng.

Ông sống hòa hợp với thiên nhiên, tự thân vận động nuôi dưỡng bản thân mình với những món ăn giản dị từ thiên nhiên như măng trúc, như giá. Ông lấy đó là niềm vui cho cuộc sống chứ không phải sự thiếu thốn hay cực nhọc.

Ông về quê sống là vì không được vua chấp thuận đề nghị chém đầu mười tám lộng thần. Nhưng khi về quê, ông vẫn luôn hướng lòng mình đến triều đình.

Tất cả những quan niệm và cách sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện trong bài thơ cho thấy ông là một người có cốt cách thanh cao, trong sạch, liêm khiết và yêu nước, thương dân.

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023

Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Phân tích bài thơ Nhàn – Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ông đã sáng tác nhiều tác phẩm hay cho nền thi ca nước nhà. Trong đó bài thơ “Nhàn” là một bài thơ vô cùng xuất sắc đã nói lên được nội tâm cũng như tình yêu quê hương đất nước của tác giả Nguyễn Bình Khiêm.

Bài thơ “Nhàn” được lấy ra từ tập thơ nổi tiếng “Bạc Vân quốc ngữ thi” là một tập thơ được tác giả viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật khá nổi tiếng thể hiện cuộc sống thanh nhàn, vui vẻ của tác giả khi trở lại làm một ông lão nông dân vui thú điền viên với mảnh vườn nhỏ của mình. Trong toàn bộ bài thơ “Nhàn” chính là một tâm hồn tràn ngập nhiềm vui và sự thanh thản trong bản thân của tác giả đó chính là tinh thần chủ đạo mà tác giả muốn gửi gắm tới người đọc

Bài thơ chỉ có tám câu nhưng đã nói lên cuộc sống vô cùng bình yên của một người nông dân khi vui thú điền viên với cảnh vườn tược của mình. Mở đầu bài thơ “Nhàn” tác giả đã viết lên hai câu thơ vô cùng giản dị về hình ảnh một ông lão nông dân vui vẻ với công việc cày cuốc của mình.

Một mai một cuốc một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Với điệp thư “Một” được tác giả thể hiện công việc của một người nông dân với công việc của mình. Dù chỉ một mình nhưng trong những câu thơ không hề hiện lên sự cô đơn, lẻ loi mà người đọc cảm nhận được sự ung dung tự tại của tác giả trong từng câu thơ. Một con người vui vẻ với cuộc sống hiện tại của mình, không hề cảm thấy cô đơn hay buồn tủi. Một ông lão nông dân thanh nhà, thoát tục, thể hiện được sự thoát tục trong từng câu chữ. Cuộc sống của tác giả khiến người đọc vô cùng ngưỡng mộ sự ung dung tự tại của tác giả. Một con người dám từ bỏ vinh hoa phú quý quyền cao chức trọng để sống như một người nông dân thật sự. Trong hai câu thơ tiếp theo tác giả đã thể hiện được suy nghĩ của mình trước những điều mà người đời thường suy nghĩ và hướng tới trong cuộc sống. Sự khôn dại của mỗi người đều do suy nghĩ của con người mà ra.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao xao

Thu ăn măng trung đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Mùa nào tác giả cũng được hưởng những món ăn quê hương giản dị, dù không phải những món cao lương mỹ vĩ đắt tiền nhưng nó lại có ý nghĩa riêng khi mang tới cho người nông dân những niềm vui không nhỏ. Những món ăn có sẵn ở quê nhà, khi mùa xuân thì được tắm trong hồ sen thơm ngát, còn mùa hạ thì tắm ao còn gì thú vị hơn. Cuộc sống của một người nông dân vô lo vô nghĩ, được làm việc cống hiến cho quê hương, khi nhàn rỗi thì được ngắm cảnh đẹp của quê hương mình. Mùa nào thức ấy tác giả đều có những món ăn riêng của mình, không còn phải lo đấu đá chốn quan trường nhiều thị phi, phân chia phe cánh.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Trong hai câu thơ kết của bài thơ “Nhàn” tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên được những điều mình suy nghĩ với tác giả phú quý chỉ là một giấc chiêm bao tỉnh dậy là tan biến. Con đường công danh sự nghiệp người ta luôn coi trọng tìm mọi cách giành giật suy cho cùng khi ra đi cũng không mang theo được. Hôm qua khi tác giả còn làm quan quyền cao chức trọng thì nhiều kẻ bợ đỡ xu nịnh, nhưng hôm nay khi tác giả chỉ là người nông dân thì chẳng có ai nhớ tới. Cuộc sống của con người quan trọng nhất là sống thật với chính mình chỉ cần mình sống có ích và vui vẻ không uổng phí cuộc sông của mình vậy là được. Mọi sự tiền bạc phú quý chẳng có ý nghĩa gì.

Phân tích bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm ta thấy được một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn trong con người của tác giả. Bài thơ chỉ có tám câu nhưng đã thể hiện rõ được tâm thế cũng như thái độ sống ung dung của tác giả khi cáo lão hồi hương là một người nông dân vui thú với ruộng vườn quê nhà. Bài thơ “Nhàn” bản thân tựa đề của nó đã nói lên toàn bộ nội dung của bài thơ, nói lên tâm thế của tác giả khi sống cảnh vui thú bình yên nơi quê hương của mình.

Mai Hoàng

Phân Tích Bài Thơ “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm / 2023

“Thơ khởi phát từ lòng người ta”, chứa đựng biết bao nhiêu rung cảm, trăn trở nơi người cầm bút. Một tác phẩm thơ chân chính, muốn vượt lên sức mạnh của thời gian, của lòng người, ẩn chứa trong đó những tình cảm thật, suy nghĩ thật và phải được viết lên từ mồ hôi và nước mắt của nhà thơ. Với “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi tới người đọc những quan niệm, triết lí sâu sắc về con người, thời đại mà cho đến tận ngày nay người ta vẫn phải suy ngẫm.

Cũng giống như Nguyễn Trãi, sống giữa một thời đại loạn lạc, đầy biến động, nơi mà các giá trị truyền thống đạo đức bị đảo lộn, con người trở nên vị kỉ hơn, vụ lợi hơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với cuộc sống nơi thôn dã, vui với việc “cày nhàn câu vắng”, tự mình thích thảng với lòng mình, tạm quên hết sự đời “dầu ai vui thú nào”. Gửi chí hướng về nơi thôn dã, cuộc sống của thi nhân nơi thôn quê hiện lên như một “lão nông chi điền”

Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Bài thơ mở đầu bằng phép liệt kê kết hợp với điệp từ “một” đã gợi mở ra một cuộc sống đơn sơ, chất phác với những công cụ lao động quen thuộc của người dân quê. Một cuộc sống thuần phác, giản dị với “mai”, “cuốc” và “cần câu” nhưng an nhàn và thanh tao. Đặc biệt, hai chữ “thơ thẩn” kết hợp với nhịp thơ 2/2/3 một cách tài tình, đã gợi ra chân dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa chốn thôn quê dân dã. Đó là dáng điệu ung dung, thu thái của một nhà thơ, cũng là nhịp điệu cuộc sống thường nhật của nhân vật trữ tình. Thanh thản, tự tại là tâm thế con người đã xác định được lẽ sống của mình, rời xa cõi trần tục, lòng không vướng bận xung quanh. Câu thơ cũng là lời bày tỏ thái độ cự tuyệt đời sống thị thành, chối bỏ mọi sự nhập cuộc, tự tách mình khỏi thế nhân trụy lạc để giữ khí thiết thanh tao.

Trở về với cuộc sống thuần phác, chân chất, Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục cụ thể hóa bằng một đời sống tinh thần và lề lối sinh hoạt hòa hợp với thiên nhiên. Ông nương theo quy luật đất trời, thuận theo thời tiết bốn mùa

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Các nguyên liệu cho đời sống, không gian sinh hoạt đều rất bình dị, đơn sơ với “măng trúc”, “giá” là những món ăn dân dã sẵn có trong tự nhiên; “ao”, “hồ” là những bến nước thôn quê đơn sơ và bình dị. Đó là sự thể hiện một lối sống, một thái độ xử thế cầu nhàn không hề kham khổ mà trái lại nó toát lên vẻ thanh cao của nhân vật trữ tình. Con người giờ đây đã hòa hơp với thiên nhiên bốn mùa, với sự luân chuyển luân chuyển của thời gian và không thể tách khỏi thiên nhiên.

Như vậy, với Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhàn trước hết là một cách sống. Cùng với “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi, ông đã khẳng định một lối sống thanh tao của các bậc hiền tài giữa cảnh đất nước suy tàn, loạn lạc: rời xa cõi trần phàm tục để tìm về với thiên nhiên, sống một cuộc sống giản dị, thuần phác để giữ tâm hồn được thư thái, thanh sạch.

Thi nhân đau đớn, phê phán thế thái nhân tình, đạo lí suy vi và tìm đến sự hòa giải nội tâm bằng một lối sống gián cách với cõi đời. Đã hơn một lần, ông lên tiếng chối bỏ lối sống đô hội thị thành, sống một cuộc sống tự tại, không đua tranh

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.

Bằng nghệ thuật đối rất chỉnh, tác giả đã đối lập giữa cái “vắng vẻ” với “chốn lao xao”, giữa “ta” với “người”. Cái “lao xao” đó chính là nơi trần tục đầy những sự nhân vi, toan tính, bon chen mà Nguyễn Bỉnh Khiêm từng chiêm nghiệm, chán ghét và thể hiện trong nhiều bài thơ khác: “Thành thị vốn đua tranh giành giật”; “Vật vờ thành thị làm chi nữa”; “Đường lợi há theo thị tỉnh”… Đối lập lại, ông đề cao lối sống dân dã, thanh đạm, kiệm cần, đề cao “nơi vắng vẻ” và rất mực coi trọng tinh thần tự tại bằng một lối nói khiêm nhường “Ta dại…”. Đương nhiên, đó là một lối sống mới mẻ, có sự hấp dẫn bởi vẻ đẹp đạo lí, cách biệt với “thói đời”. Nếu nhìn cuộc sống ấy theo quan niệm đạo đức nhà nho một chiều, người ta không dễ dàng chấp nhận những mầm mống lối sống mới đó. Trên tất cả, ông đã hòa giải được những phức tạp nội tâm bằng tinh thần tự tại và thái độ gián cách với thế tục, đứng trên thế tục. Nhưng xét đến cùng, đó mới chính là cái khôn của bậc đại trí, quay lưng lại với danh lợi, sống một cuộc sông an nhàn để giữ cho tâm hồn thư thái.

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chứng kiến và chiêm nghiệm lẽ đời, đã đi đến cùng của sự khôn dại để thấu hiểu và tìm ra triết lí “nhàn” – cũng là triết lí nhân sinh sâu sắc

Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Thi nhân đã nhắc đến giấc mộng dưới cây hòe của Thuần Vu Phần để thức tỉnh một chân lí: của cái, vật chất chỉ là ảo mộng, như một giấc chiêm chiêm bao, bất chợt đến rồi lại bất chợt đi. Phải trải qua tất cả cảnh đời, trường đời như thế rồi Nguyễn Bỉnh Khiêm mới đạt tới thế ứng xử văn hóa mang tinh thần triết lí về nhàn dật và tự tại. Một tinh thần nhàn dật và tự tại như thế nhiều khi biểu lộ cách nói hơn là hành động thực, một giải pháp tình thế hơn là chí hướng cả đời người, một sự độc tôn tâm trạng bất đắc dĩ hơn là khả năng tìm ra lối thoát tối ưu. Bởi xét đến cùng, giữa một xã hội đâu đâu cũng là hư danh, phú quý phù du, mấy ai được như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Trãi để nhìn thấy lẽ đời, sự đời, để gìn giữ khí tiết thanh tao. Nhân vật trữ tình đã tìm đến cái say để tỉnh, dùng mộng để nói thực và thốt lên những chiêm nghiệm sâu sắc. Cũng như chính thi nhân đã bày tỏ rõ ràng trong Bài tựa tập thơ Am Bạch Vân: “Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là đề nói chí. Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật. Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui…”

Như vậy, khép lại bài thơ, người đọc vẫn còn vương vấn cuộc sống an nhàn, thanh tao, giản dị mà Nguyễn Bỉnh Khiêm coi đó là cách sống, là triết lí sống sâu sắc: vinh hoa phú quý chỉ là phù du, như một giấc mộng, rời xa chốn hư danh phàm tục đó để giữ khí tiết thanh sạch mới là bậc đại trí. Điều đó đã làm nên sức sống trường tồn bất diệt của tác phẩm trước sức mạnh của dòng thời gian và đời người.

Nguyễn Thu Hà

Bài Thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) / 2023

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam thời cận đại. Ông được mệnh danh là “cây đại thụ văn hóa dân tộc” của thế kỉ 16. Những tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có tầm ảnh hưởng đến quá tình phát triển của nền văn học Việt Nam.

Ông là người có học vấn uyên thâm ,là nhà thơ lớn của dân tộc . Thơ của ông mang đậm chất triết lí giáo huấn , ngợi ca chí khí của kẻ sĩ ,thú thanh nhàn , đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội

Tác phẩm “Nhàn” là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn là một bài thơ Nôm số 73 thuộc quyển Bạch Vân quốc ngữu thi. Tiêu đề ” Nhàn” được người đời sau đặt.

Bài thơ Nhàn được chia bố cục thành 4 phần.

Bài thơ Nhàn với nội dung ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhành. Qua đó có thể thấy sự chân chính, thanh cao và sự mộc mạc giản dị của làng quê Việt.

Một mai một cuốc , một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao xao Thu ăn năng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao Rượu đến cội cay ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

3.1 Hai câu đầu

” Một mai , một cuốc, một cần câu Thơ thẫn dầu ai vui thú nào…..”

Hai câu thơ mở đầu trong bài thơ Nhà nhà thơ nhằm khắc họa một hình ảnh ông lão nông dân sống một cuộc sống vô cùng thảnh thơi và an nhàn. Trong đó tác giả sử dụng điệp từ ” một” thể hiện sự cứng cỏi, chắc chắn, kiên định, sẵn sàng nhưng bước đi vẫn bộc lộ sự an nhàn của tác giả, vừa đi vừa đếm.

Tiếp đến là sử dụng từ láy “thơ thẩn” trong câu thơ thứ hai khắc họa nên một dáng vẻ của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai. Từ 2 câu thơ ta có thể thấy cuộc đời của nhà thơ vô cùng bình dị và chân chất đó là lúc về quê ở ẩn. Và từ ” vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái . Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ , tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên.

3.2. Hai câu thơ thực: Quan niệm sống của nhà thơ

“….. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao……”

Hai câu thơ thực trong bài thơ Nhàn là miêu tả cuộc sống của nhà thơ. Nhà thơ sử dụng các từ đối nhau như “ta” và “người” “dại” và “khôn”, “nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao”. Sử dụng những từ ngữ đối lập, thể hiện quan niệm sống của tác giả. Ông luôn muốn tìm sống đến những nơi yên tĩnh, vắng vẻ những nơi miền quê để an nhàn không thích chốn lao xao ở quan trường nhiều mưu mẹo, toan tính.

3.3. Hai câu thơ luận – Cuộc sống ở chốn quê nhà

” ….. Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao………”

Hai câu thơ sử dụng những từ ngữ liệt kê những đồ ăn có sẵn trong tự nhiên. Đó là mùa thu ăn mắc trúc, mùa đông thì ăn giá đỗ. Đây là những loại thức ăn có sẵn trong tự nhiên, mùa nào thức nấy.

Câu thơ ” xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã .Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản , hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen , tranh giành

Qua 2 câu thơ trên ta cảm nhận được rằng, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ thanh cao, ưa thích lối sống dân dã, mộc mạc nơi quê nhà.

3.4 Hai câu thơ kết – Triết lý sống nhà của tác giả

“……. Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

Hai câu thơ kết là sự thể hiện sự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phù phiếm. Cụm từ” nhìn xem” là biểu hiện của một thế đứng thanh cao, dường như đã tiên liệu ngay từ khi chọn lối sống của một người tự cho mình là “dại”.

Cách ngắt nhịp 2/5 ở câu thơ cuối gợi cảm nhận phú quý chỉ là một giấc chiêm bao, một giấc mơ mà thôi. Hai câu thơ cuối miêu tả cuộc sống ung dung tự tại, thích cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, thích hưởng thụ cuộc sống ” Nhàn” như tiêu đề của bài thơ.

Bài thơ Nhàn là một bài thơ nôm, với việc sử dụng những từ ngữ giản dị nhưng chứa đựng những triết lý sâu sắc, với cách sử dụng từ ngữ đối lập tạo nên sự khác nhau về hai phương diện cuộc sống ở chốn quan trường và cuộc sống dân dã nơi làn quê. Hơn hết là thể hiện tâm hồn thanh cao của nhà thơ, không ham danh lợi, giàu sang, thích được đắm mình trong những thú vui điền viên nơi làng quê.