Top 16 # Ý Nghĩa Bài Thơ Thương Ông / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Những Bài Thơ Hay, Ý Nghĩa Viết Về Ông Bà / 2023

Lưng còng,tóc bới, tuổi vừa bảy mươi

Cháu Ông chưa đến tuổi mười

Nhớ cây gậy chống, Ông cười gỏ con

Nhớ hoài ngày tháng vẫn còn

Đầu con Ông gỏ, làm con nhớ hoài

Hôn trên chỗ gỏ, mắt cay Nội nè

Thương cho cháu Nội Ông ghê

Ba con vất vã mọi bề nghe không

Làm tròn hiếu đạo nặng lòng Ba con

Ba con cũng bỏ cả con đi rồi

Nhớ về năm tháng Nội Tôi một thời

Nhớ hoài ! nhớ mãi Nội ơi !

Nhớ cây gậy gỗ,nhớ đời còn đây

Tóc sương muối bạc giờ này

Đầu con Nội gõ, còn đây nhớ hoài ….!!

BÀI THƠ: NGOẠI ƠI

Tác giả: Phi Nga

Cháu yêu Bà lắm Ngoại ơi !

Cháu mong Bà khoẻ, yêu đời tươi vui.

Ngoại như tia nắng mặt trời,

Sẽ chia ánh sáng, rạng ngời Cháu Con.

Đời Ngoại như dốc núi non,

Để cho Con Cháu, lon ton học cùng.

Ngoại là đồi núi ngàn trùng,

Thân cây cổ thụ, ôm cùng Cháu Con.

Ngoại như Biển cả mênh mông,

Tắm mát tất cả, tấm lòng Cháu Con.

Tình thương Ngoại tặng, Cháu Con mãi còn.

Trăm năm tuổi Ngoại đã tròn,

Con Ngoại cả tá, nếp lòn cân nhau.

Cháu, chắt, chút, chít cả đoàn,

Buồn, vui quy tụ tập đoàn tươi vui.

Cảm ơn có Ngoại trên đời,

Đã sinh được Mẹ, sinh thời Cháu, Con.

Thương Ngoại nhiều tuổi héo mòn,

Cầu Trời Ngoại khoẻ, Cháu Con vui mừng.

BÀI THƠ: CHÁU YÊU ÔNG

Tác giả: Oanh Nguyễn

Ông ơi! Cháu rất yêu ông!

Có ông cháu thấy trong lòng luôn vui.

Những ngày nghỉ học đi chơi

Theo ông câu cá, đi bơi sông nhà.

Nhưng sao cháu thấy thật là trẻ trung.

Cháu cùng ông hay chơi chung

Cầu lông, cờ tướng, bắn thung, đá gà…

Ông Bụt trong truyện Cổ mà cháu ưa.

Ông thường hay kể chuyện xưa

Những ngày lam lũ sớm trưa nhọc nhằn.

Tảo tần cày xới, bón phân, làm mùa.

Quê nghèo nắng sớm, chiều mưa

Ông nuôi Bố lớn, Bà vừa ra đi

Hy sinh vun đắp cho đời cháu con.

Cháu không biết lấy chi đền ơn Ông.

Cháu thường ấp ủ trong lòng

Mong sao khôn lớn nuôi Ông tuổi già.

Ông phải sống thật lâu nha!

Cháu sẽ phụng dưỡng Bố và cả Ông.

BÀI THƠ: NGOẠI ƠI

Tác giả: Bảo Châu

Ngoại ơi, mỗi sớm khi chiều

Cuộc đời con nhớ thương yêu Ngoại nhiều

Nhạt nhòa bóng Ngoại liêu xiêu

Tháng năm vất vả sớm chiều nắng mưa…

Thương con…xót mấy cho vừa

Một đàn cháu nhỏ còn chưa nên người

Đói no, ấm lạnh, Ngoại ơi

Miếng cơm nhường cháu, mặn mòi cá dưa…

Ngược xuôi bóng Ngoại, nắng trưa mưa dầm…

Tảo tần, khuya sớm âm thầm

Cháo rau nuôi cháu lớn dần yêu thương…

Dẫn con đi suốt chặng đường

Mảnh mai bóng Ngoại, trùng dương xa mờ

Yêu thương còn đến bây giờ Ngoại ơi…

Tâm hương thành kính dâng Người

Một đàn cháu nhỏ nên người hôm nay !

Ngoại ơi xin hãy về đây…

Vui cùng con cháu hôm nay ơn Người !

Bâng khuâng… thoáng bóng Ngoại cười

Yêu thương cùng Mẹ trên trời tiêu dao ?

Ngỡ trong mơ… tưởng ngày nào

Ngoại cùng con cháu vui sao một nhà ?

Dàn Ý Phân Tích Hình Ảnh Ông Tú Trong Bài Thương Vợ / 2023

Dàn ý phân tích hình ảnh ông Tú trong bài Thương vợ

Dàn ý

– Trình bày những nét khái quát về tác giả Trần Tế Xương: một ánh sao lạ vụt sáng trên bầu trời văn chương nước Việt với những bài thơ mang tư tưởng li tâm Nho giáo

– Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Trần Tế Xương. Không chỉ thể hiện thành công hình tượng trung tâm là bà Tú mà bài thơ cũng đặc biệt thành công hình ảnh ông Tú với những phẩm chất đáng quý

1. Ông Tú là người có tấm lòng thương vợ sâu sắc

* Ông Tú cảm thương cho sự vất vả, lam lũ của bà Tú

– Ông thương bà Tú vì phải mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”:

+ Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào

+ Địa điểm “mom sông”:phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

⇒ Ông Tú thương hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định, bà không những phỉ nuôi còn mà phải nuôi chồng

– Ông thương vợ khi phải lặn lội bươn chải khi làm việc:

+ “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng

+ Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn + khi quãng vắng: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu

+ “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc + Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cranh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu

⇒ Tấm lòng thương xót da diết của ông Tú trước thực cảnh mưu sinh của bà Tú

* Ông phát hiện và trân trọng, ngợi ca những đức tính tốt đẹp của vợ

– Ông cảm phục bởi tuy vất vả nhưng bà Tú vẫn chu đáo với chồng con:

+ “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn

+ “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu

– Ông Tú trân trọng sự chăm chỉ, tần tảo đảm đang của vợ:

+ “Một duyên hai nợ âu đành phận”: chấp nhận, không than vãn

+ “dám quản công”: Đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.

⇒ Trần Tế Xương đã trân trọng đề cao phẩm chất cao đẹp của bà Tú: đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú

2. Ông ý thức được bản thân là gánh nặng của vợ và căm phẫn trước xã hội đẩy người phụ nữ vào bất công

* Người đàn ông trong xã hội phong kiến đáng lẽ ra phải có sự nghiệp hiển hách để lo cho vợ con, nhưng ở đây, ông Tú ý thức được bản thân là gánh nặng của vợ

+ “Nuôi đủ năm con với một chồng”: Tú Xương ý thức được hoàn ảnh của mình, nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng coi mình là một đứa con đặc biệt

+ “Một duyên hai nợ”: Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu

+ “Có chồng hờ hững cũng như không”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời

* Từ tấm lòng thương vợ, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc đẩy người phụ nữ vào bất công

+ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả

⇒ Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi, ông căm phẫn xã hội đẩy người phụ nữ vào ngang trái bất công

– Khẳng định lại những nét nghệ thuật tiêu biểu góp phần thể hiện thành công hình ảnh ông Tú

– Trình bày suy nghĩ bản thân

Bài văn mẫu tham khảo phân tích hình ảnh ông Tú

Trong thơ Tú Xương có cả một mảng đề tài riêng viết về người vợ – bà Tú. Ở các bài thơ này, bà Tú bao giờ cũng xuất hiện trước và khuất lấp phía sau là hình ảnh ông Tú. Dù chỉ là nét vẽ thoảng qua nhưng khi đã nhận ra hình dáng ông trong đó người đọc sẽ vô cùng ấn tượng, nhớ mãi về một người đàn ông yêu thương và trân trọng vợ mình. Trong bài thơ Thương vợ, hình ảnh ông Tú cũng thấp thoáng hiện lên nhưng để lại biết bao ấn tượng với người đọc.

Bài thơ nổi bật lên là chân dung bà Tú lam lũ, tảo tần “quanh năm buôn bán ở mon sông” nuôi sống gia đình. Nhưng đằng sau bức tranh chủ đạo ấy ta còn thấy một bức tranh khác cũng không kém phần đặc sắc chính là hình ảnh ông Tú với lòng yêu thương, quý trọng và tri ân vợ. Không chỉ vậy, ông còn là người có nhân cách cao đẹp.

Trước hết, Tú Xương là người có tình yêu thương vợ sâu sắc:

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng.

Ông tuy không buôn bán cùng vợ nhưng ánh mắt trái tim ông thì vẫn một lòng hướng theo bà, để quan sát, để yêu thương bà Tú hơn khi cảm thấy hết những vất vả, cực nhọc mà bà Tú phải trải qua. Đặc biệt tự trân quý, yêu thương đó được thể hiện rõ nhất trong câu thơ: “Nuôi đủ năm con với một chồng”, đây là lời ông kể công, tính công cho vợ. Xuân Diệu đã từng nhận xét: “Chồng cũng là một thứ con còn dại, phải nuôi. Đếm con, năm con chứ ai lại đếm chồng, một chồng – tại vì phải nuôi như con cho nên mới liệt ngang hàng mà đếm để nuôi cho đủ”. Đặc biệt chữ “đủ” gợi cho ta nhiều ý nghĩa, nhiều cách hiểu, đủ – đủ thành phần trong gia đình: cả cha và con; đủ – đủ mọi thú ăn uống, vui chơi: “Cơm hai bữa cá kho rau muống/ Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô”. Đồng thời ông Tú cũng tự tách riêng mình với năm đứa con để cảm nhận hết tình yêu thương của vợ và dành lời tri ân sâu sắc dành cho bà Tú. Có lẽ phải là một người yêu thương, trân trọng vợ hết lòng ông mới có thể hạ cái tôi cao quý của mình để nói lời tri ân, cảm ơn sâu sắc đối với vợ đến như vậy.

Không chỉ vậy, Tú Xương còn là con người có nhân cách, điều đó được thể hiện rõ nhất qua lời tự trách: “Một duyên hai nợ âu đành phận”. Bà Tú lấy ông cái duyên, nhưng đồng thời cũng là cái nợ, là gánh nặng. Duyên đến với nhau thì ít mà nợ với nhau thì nhiều. Ông Tú tự nhận mình chính là cái nợ mà bà Tú cả đời này phải đèo bòng, bà có trách nhiệm phải trang trải. Mặc dù gánh trên mình trách nhiệm nặng nề nhưng người vợ không hề ca thán, kể công, như một lẽ thường tình của người phụ nữ Việt Nam, bà sẵn sàng hi sinh tất cả cho chồng con. Câu nói “âu đành phận” “dám quản công” như một lời Tú Xương nói hộ nỗi lòng vợ, đồng thời cũng là lời kể công thay cho vợ. Câu thơ như tiếng thở dài não nề của người chồng thương vợ và có nhân cách.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không

Tiếng chửi thói đời những tưởng là tiếng nói phẫn uất của bà Tú, nhưng thực chất đó là lời tác giả tự trách chính mình, tự phê phán chính mình, đó là cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt Tú Xương dành cho vợ. Thói đời ở đây có thể hiểu là những quy tắc nghiêm ngặt, cổ hủ của chế độ phong kiến đã đẩy người vợ vào công cuộc mưu sinh với bao khó khăn, vất vả thậm chí cả nguy hiểm. Đó còn là thói vô cảm của người đàn ông, không quan tâm, không sẻ chia những nhọc nhằn trong cuộc sống với vợ. Tiếng chửi là lời nói phẫn uất, nhưng cũng chất chứa biết bao yêu thương, trân trọng, lòng biết ơn Tú Xương dành cho vợ.

Bằng ngôn ngữ giản dị, tình cảm chân thành sâu sắc Tú Xương đã góp một cảm xúc mới mẻ vào văn học trung đại Việt Nam. Bài thơ không chỉ thấy sự tảo tần, hinh sinh của bà Tú, mà còn thấy được tình yêu thương, sự tri ân mà tác giả dành cho vợ. Qua đó còn làm sáng lên nhân cách cao đẹp của Tú Xương.

Theo chúng tôi

Giáo Án Mầm Non Bài Thơ Thương Ông / 2023

Ngày đăng tin: 21:03:49 – 16/01/2019 – Số lần xem: 3247

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TUẦN LỚP LÁ 1 CHỦ ĐỀ: GIA ĐÌNH CHỦ ĐỀ NHÁNH: NHỮNG NGƯỜI THÂN TRONG GIA ĐÌNH

– Trẻ thuộc lời bài thơ, hiểu nội dung bài thơ

– Rèn kỹ năng đọc diễn cảm và diễn tả điệu bộ phù hợp

– Giáo dục trẻ yêu quý tôn trọng những người thân trong gia đình, biết kính yêu ông, bà, cha, me.

Môn : Làm quen văn học Đề tài : Thơ “Thương ông”

Hoạt động 1: Bé trò chuyện về người thân– Trẻ hát bài “Cháu yêu bà”

– Bài hát vừa nhắc đến ai? Ai hãy kể những thành viên trong gia đình. Cô dẫn dắt vào bài

– Cô cùng cả lớp đọc diễn cảm bài thơ 1 lần

– Giảng nội dung bài thơ

– Cô cùng trẻ đọc bài thơ theo tranh vẽ minh hoạ bài thơ đọc kết hợp giảng từ khó : Khập khiễng, khập khà

( Cô chú ý sửa sai cho trẻ)

– Cô cho trẻ đọc theo nhiều hình thức, đọc nối tiếp, đọc theo tay cô, đọc to, nhỏ

– Cho trẻ đọc diễn cảm theo tranh vẽ minh hoạ. Tranh viết cả bài thơ

– Trẻ đọc thơ theo cảm nhận của mình

– Các con vừa đọc bài thơ gì? Của tác giả nào

– Bài thơ nói về ai?

– Ông bị làm sao?

– Thấy ông đau thì con đã làm gì?

Hoạt động 3: Thi tài

– Cuối cùng ông cháu thế nào?

* Đặt tên bài thơ: Mời trẻ đặt tên khác cho bài thơ

– Cô cùng trẻ thống nhất đặt tên bài thơ

– Cho trẻ lên chơi “Ghép từ”

– Mời 2 đội lên chơi ghép các chữ cái thành từ “Thương ông”

– Trong thời gian cô quy định đội nào ghép nhanh và đúng là đội đó thắng

– Kết thúc: Cho trẻ đọc lại bài thơ 1 lần

– Trẻ thu dọn đồ dùng vào nơi quy định

BÀI THƠ: THƯƠNG ÔNG

Ông bị đau chân

Nó sưng nó tấy

Đi phải chống gậy

Khập khiễng khập khà

Bước lên thềm nhà

Nhấc chân khó quá

Thấy ông nhăn nhó

Việt chơi ngoài sân

Lon ton lại gần

Âu yếm nhanh nhảu

“Ông vịn vai cháu

Cháu đỡ ông lên”

Ông bước lên thềm

Trong lòng vui sướng

Quẳng gậy cúi xuống

Quên cả đớn đau

Ôm cháu xoa đầu

“Hoan hô thằng bé

Bé thế mà khoẻ

Vì nó thương ông”

Tranh Cãi Quanh Đoạn Trích Bài Thơ Thương Ông / 2023

TT – Đoạn trích bài thơ Thương ông (Tú Mỡ) trong sách Tiếng Việt lớp 2, tập 1 đang gây xôn xao dư luận

Đoạn trích bài thơ Thương ông (Tú Mỡ) trong sách Tiếng Việt lớp 2, tập 1 đang gây xôn xao dư luận

Bản thảo mà học sinh lớp 2 hiện đang học khoác một “diện mạo” khác xa với bài thơ Thương ông đầy vần điệu mà nhiều thế hệ học sinh trước đây vẫn còn thuộc.

Cụ thể, nhiều câu thơ trong đoạn trích này bị cắt, đoạn cuối cũng hoàn toàn mới đối với những người đã tiếp xúc và thuộc đoạn trích bài thơ Thương ông được sử dụng trong sách giáo khoa (SGK) cũ.

Nếu đối chiếu với bản gốc bài thơ Thương ông thì SGK cũ trích nửa đoạn đầu (từ “Ông bị đau chân” đến “Vì nó thương ông”), SGK hiện hành lại lược bỏ một số câu, đoạn thơ nằm giữa bài (tổng cộng bảy câu), giữ nguyên khúc đầu và khúc cuối bài thơ.

Nhiều ý kiến cho rằng sự mộc mạc, dễ gần, dễ cảm của đoạn trích cũ rõ ràng mang lại hiệu quả tiếp nhận cao hơn, nhất là đối với trẻ nhỏ. Trên mạng xã hội, nhiều người phản ứng cách cắt ghép này vì cho rằng SGK đã không tôn trọng tác giả bài thơ.

Bài thơ không còn rành mạch về ngữ nghĩa và ngữ điệu khi bị lược bỏ tùy tiện một số câu như vậy. Tuy nhiên, một số giáo viên lại cho rằng do dung lượng SGK có hạn nên không thể in nguyên văn bài thơ mà chỉ có thể trích ra những đoạn dễ hiểu để trẻ lớp 2 có thể đọc hiểu.

Cô L.N. – giáo viên dạy lớp 2 tại Q.7, chúng tôi – cho biết: “Nhiều năm nay SGK đã sử dụng bản thảo mới này. Bài thơ có phần lời dễ thương, dễ thuộc.

Tuy nhiên, trong phân phối chương trình thì bài thơ này thuộc phần nội dung giảm tải. Giáo viên vẫn khuyến khích học sinh đọc bài thơ này vì nằm trong chủ điểm về giáo dục tình cảm của trẻ đối với ông bà.

Đúng là khi đi học, có những bài thơ ta thuộc nằm lòng và nhớ mãi không quên, bởi gây ấn tượng sâu sắc cho chúng ta, vì vậy khi bắt gặp một bản thảo khác dễ gây hụt hẫng. Cá nhân tôi cũng chưa được tiếp xúc trọn vẹn bài thơ Thương ông của nhà thơ Tú Mỡ mà chỉ giảng dạy đoạn trích, vì vậy không nắm được tại sao SGK lại cắt ghép trong đoạn trích này”.

Đúng như lời cô L.N., nhiều thế hệ học sinh cũ vẫn còn thuộc nằm lòng đoạn trích của bài thơ Thương ông trong chương trình tiểu học trước đây với những lời thơ hết sức chân phương và gần gũi.

Đây không phải lần đầu tiên dư luận quan tâm đến những đoạn thơ, văn được cắt ghép hoặc thay đổi trong SGK hiện hành.

Thương ông

(bản quen thuộc lâu nay)

“Ông bị đau chân

Nó sưng nó tấy

Đi phải chống gậy

Khập khiễng khập khà

Bước lên thềm nhà

Nhấc chân quá khó

Thấy ông nhăn nhó

Việt chơi ngoài sân

Lon ton lại gần

Âu yếm, nhanh nhảu:

Ông vịn vai cháu

Cháu đỡ ông lên…”

Ông bước lên thềm

Trong lòng vui sướng

Quẳng gậy cúi xuống

Quên cả đớn đau

Ôm cháu xoa đầu:

“Hoan hô thằng bé

Bé thế mà khỏe

Vì nó thương ông”.

GS Nguyễn Minh Thuyết:

“Chúng tôi không hề tùy tiện”

Xung quanh việc có hai bản trích dẫn bài thơ Thương ông của Tú Mỡ trong SGK Tiếng Việt bậc tiểu học, trong đó bản trích ở SGK Tiếng Việt lớp 2 hiện hành được dư luận cho rằng không hay bằng bản trích trước, GS Nguyễn Minh Thuyết – chủ biên SGK Tiếng Việt lớp 2 – đã trao đổi lại với Tuổi Trẻ:

* Nhưng vì sao nhóm tác giả không chọn đoạn trích từng đưa vào SGK lớp 4 vốn được khen rất hay?

– Ở đoạn đầu bài thơ, đúng là rất hay. Nhưng khi lựa chọn cho học sinh lớp 2, ngoài tiêu chí chọn nội dung hay, chúng tôi phải quan tâm tới những yếu tố khác. Đoạn đầu bài thơ có câu “Đi phải chống gậy/ Khập khiễng khập khà”. Từ “khập khà” là cách viết của nhà thơ để gieo vần, nó hợp lý khi nằm trong chỉnh thể bài thơ. Nhưng xét ở mục đích dạy tiếng Việt cho học sinh thì đó là từ không chuẩn và khó hiểu với học sinh lớp 2. Ngoài ra theo quan điểm của nhóm biên soạn, ở phần đầu có một số câu nôm na, không “thơ” bằng phần sau. Đặc biệt ở phần sau khi đứa cháu bảo ông nói “Không đau! Không đau!”, người ông làm theo… là phần rất thú vị, thể hiện tình cảm trong sáng, cách nghĩ hồn nhiên rất trẻ con của người cháu. Theo tôi, cái thần của bài thơ nằm ở đây. Đó là lý do chúng tôi chọn đoạn trích sau.

Tôi cũng rất chia sẻ với các độc giả từng học hoặc biết SGK lớp 4 trước đây đã quá quen thuộc với đoạn trích Thương ông nên có ý kiến không đồng tình với cách lựa chọn đoạn trích sau, nhưng cũng mong độc giả hiểu cho chúng tôi không hề tùy tiện mà phải nghiên cứu kỹ khi có quyết định như thế. Vì chọn đoạn trích cho học sinh lớp 2 không phải việc dễ.

* Với những lý do trên, tại sao nhóm biên soạn không chọn một tác phẩm khác có độ dài vừa phải để không phải cắt xén?

* Theo quy định, việc đưa không toàn vẹn một tác phẩm thì ở đoạn đầu và cuối đoạn trích cần có dấu ba chấm trong ngoặc đơn để người đọc biết, nhưng ở các đoạn trích nói chung và đoạn trích bài Thương ông trong SGK Tiếng Việt lớp 2 không làm như vậy?

– Đúng là cần phải để ba chấm ở những đoạn không liền mạch so với bản gốc. Nhưng đó là trích dẫn cho người lớn đọc. Còn đối với trẻ em, nhất là học sinh lớp 2, việc đưa vào ba chấm đó thì giáo viên lại phải giải thích, trẻ em cũng không hiểu. Ngoài ra, trong các đoạn trích, chúng tôi thường ghi rõ trích theo tác phẩm nào đó rồi.

Thân Thị Hoàng Oanh @ 21:27 06/11/2014 Số lượt xem: 714