Top 7 # Ý Nghĩa Của Truyện Cổ Tích Về Loài Người Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

101 Truyện Cổ Tích Hay Và Ý Nghĩa Nhất Về Loài Vật

Truyện cổ tích có lẽ đã gắn liền với biết bao thế hệ trẻ em không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế giới. Trong đó, các câu chuyện cổ tích loài vật cũng được nhiều trẻ em lắng nghe và yêu thích.

1. Cún con đi lạc – câu truyện cổ tích về loài vật phổ biến

Truyện Cún con đi lạc là một câu truyện cổ tích về loài vật phổ biến nói về một cậu bé bị lạc mất con cún yêu quý và cậu đi tìm kiếm chú cún xung quanh nhưng vẫn không thấy cún đâu cả. Cậu đã đi lang thang khắp nơi từ sáng đến tối để tìm chú cún nhưng vẫn không tìm thấy. Sau đó cậu đã buồn bã trở về nhà và cậu đã gặp anh hàng xóm đang ngồi bên hiên nhà, cậu đến gần chúc anh ngủ ngon và hỏi anh thăm anh xem có thấy chú cún con của mình ở đâu không. Và thật bất ngờ vì anh hàng xóm đang giữ chú cún con của cậu bởi vì anh không biết chú cún đó là do cậu bé nuôi.

Ý nghĩa câu truyện: đừng bao giờ bỏ cuộc khi chưa cố gắng nổ lực thật nhiều

2. Truyện Con lừa hát

Truyện Con lừa hát kể về một con lừa vì không thích những món ăn mà ông chủ cho nó ăn nên nó đã quyết định đi đến một cánh đồng gần đó để ăn cỏ mà nó thích. Một ngày nọ, trên đường đi ra cánh đồng chú lừa gặp một con cáo và hai con vật kết bạn với nhau. Chúng đi và tìm thấy cánh đồng trồng dưa hấu và cùng nhau ăn. Lừa đã ăn rất nhiều bởi vì dưa hấu quá ngon và nó cao hứng nói với cáo rằng nó muốn hát. Cáo mới cảnh cáo rằng nếu lừa hát thì con người sẽ biết chúng đang phá hoại mùa màng của họ và sẽ đến đánh chúng nó chết mất. Nhưng lừa không thèm nghe lời cảnh cáo của cáo mà vẫn hát. Khi thấy lừa hát, con cáo liền nhành chóng nhảy qua hàng rào và biến mất trước khi người dân làng chạy đến đánh lừa.

Con lừa hát là một câu truyện cổ tích loài vật quen thuộc

Ý nghĩa câu truyện truyện cổ tích về loài vật này chính là hãy học cách biết lắng nghe những gì người khác nói.

3. Dê và cáo – truyện cổ tích về loài vật với bài học sâu sắc

Truyện kể về một con cáo nhân lúc con sư tử hung bạo đi ra ngoài mà lẻn vào hang của sư tử ăn tất cả thức ăn có trong hang. Sau khi ăn uống no nê, cáo đi dạo xung quanh và tận hưởng cảm giác vui vẻ lâng lâng sau khi ăn một bữa ngon lành. Không may nó đã bị té xuống một cái giếng sâu nhưng không có nhiều nước. Nó cố gắng leo lên để thoát ra ngoài nhưng lại không thành công. Bỗng nhiên khi đó cáo nghe giọng của dê hỏi rằng cáo đang làm gì ở dưới đó vậy. Cáo mới ngước nhìn và nói rằng nó ở làng bên nhưng đang gặp hạn hán nên nó phải nhảy xuống giếng để mà lấy nước. Nghe cáo nói vậy dê liền nhảy xuống giếng. Lợi dụng việc dê nhảy xuống, cáo nhanh chóng dựa vào mấy cái sừng dài của để leo lên khỏi giếng. Sau khi leo lên cáo còn quay lại nói dê thật ngốc khi đã tin lời cáo và nhảy xuống giếng.

Truyện dê và cáo là một bài học về lòng tin

Ý nghĩa câu truyện: trong cuộc sống nhất định không được tin tưởng ai đó một cách mù quáng.

4. Truyện Hai con gà trống

Truyện kể về hai con gà cùng một mẹ sinh ra. Khi chúng lớn lên thì thường xuyên cãi cã nhau. Con nào cũng tự cho mình đẹp đẽ, oai phong và có quyền làm Vua của nông trại hơn. Hôm nọ sau khi cãi nhau, chúng đã lao vào đánh nhau quyết liệt, rằng còn nào thắng thì sẽ được làm Vua của nông trại. Đánh nhau đến cuối cùng thì dĩ nhiên có một con chiến thắng và một con thua cuộc. Con gà thắng cuộc thắng trận nhảy lên hàng rào và cất tiếng gáy để ăn mừng sự chiến thắng của mình. Nào ngờ vì chính tiếng gáy đó mà bị chim ưng để ý đến và xà xuống bắt con gà thắng cuộc đi mất. Còn con gà thua cuộc vẫn đang nằm thoi thóp thở dưới đất.

Ý nghĩa câu truyện cổ tích về loài vật này muốn hướng đến sự giáo dục về tình cảm gia đình. Đã là anh em trong gia đình thì phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau để không bị người ngoài ức hiếp, đàn áp.

5. Truyện Con cáo và chùm nho

Đây là một câu truyện cổ tích về loài vật kể về một con cáo bắt gặp một chùm nho chín đỏ căng mọng hấp dẫn khiến cáo thèm nhỏ rãi nên đã có ý định nhảy lên để hái chùm nho. Vì khoảng cách của cáo và chùm nho khá xa nên nó đã đi xa gốc cây một khoảng để lấy được đà nhảy lên hái chùm nho, nhưng lần nhảy đầu tiên thì cáo không với tới chỉ cần một xíu nữa là có thể hái được chùm nho.

Nó cố gắng thử thêm vài lần nữa nhưng dù cố gắng đến mấy cũng không thể, tất cả đều vô ích. Cáo ngồi xuống và nhìn chùm nho tức tối, và tự nhủ thầm rằng nó ngu lắm, chùm nho còn xanh làm sao mà ăn được, nó phải mất bao nhiêu công chỉ để hái chùm nho còn xanh và chua chát kia không đáng người ta ngó tới. Sau đó khinh khỉnh bỏ đi không thèm hái nữa.

Ý nghĩa câu truyện: nhắc nhở chúng ta nên biết được thực lực bản thân của mình. Đừng tự lấy cớ, tự dối lòng mình để tự biện minh cho khả năng thấp kém của mình.

6. Truyện cổ tích loài vật – Thỏ và Rùa

Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng nọ có thỏ và rùa là đôi bạn rất thân thiết với nhau. Thế nhưng, vào một ngày kia, cả hai lại xảy ra trận cãi vã chỉ vì muốn biết ai là người chạy nhanh nhất. Vậy là thỏ và rùa liền tổ chức một cuộc thi chạy để quyết định ra ai là người chạy nhanh hơn.

Lúc bắt đầu cuộc đua, chú thỏ chạy rất nhanh, vượt xa chú rùa cả một đoạn đường rất dài. Thỏ ta thấy vậy liền nghĩ bụng rằng rùa còn lâu mới đuổi kịp với mình nên chú thỏ cứ vui vẻ chậm rãi đi bộ, bắt bướm, đùa vui hái hoa, từ chỗ này đến chỗ khác cho đến khi thỏ mệt quá liền tìm gốc cây lớn để ngồi nghỉ và ngủ quên lúc nào không hay.

Trong lúc đó, chú rùa vẫn chậm rãi kiên trì vượt mọi vất vả khó nhọc, để đi từng bước trên đường đua.

Sau một khoảng thời gian rất lâu, Thỏ mới chợt tỉnh dậy, nhận ra Rùa đã đi rất xa và gần tới vạch đích. Thỏ thấy vậy liền ba chân bốn cẳng chạy đuổi theo nhưng đã muộn, chú rùa đã tới vạch đích đầu tiên. Và thế là chú thỏ đành phải chịu thua trước chú rùa.

7. Truyện cổ tích loài vật – Vịt con cẩu thả

Chuyện cổ tích loài vật sau đây sẽ kể về một chú vịt con có tính cách cẩu thả.

Vào một ngày đẹp trời, chú vịt con ra sông tập bơi, nó thường xuyên cởi và vứt quần áo bừa bãi lung tung trên bờ mà không chịu cất gọn gàng, mà chỉ muốn nhảy thẳng xuống sông và tập bơi cho thỏa thích. Một lúc sau, quần áo của chú vịt con do vứt bừa bãi nên đã bị dòng nước làm trôi mất, sau khi tập bơi xong, vịt con liền lên bờ để mặc đồ nhưng lại không thấy quần áo đâu nữa, chú vịt con liền òa lên khóc rất to. Lúc này, do không còn quần áo để mặc, vịt con liền lấy mấy chiếc lá sen to để che lên người rồi vội vàng chạy về nhà.

Trong lúc vịt con đang chạy về nhà, khi chạy qua bãi cỏ thì bị chú Thỏ bắt gặp, nó liền cười và nói to: “Lêu lêu bạn vịt bị hở mông kìa, xấu hổ chưa kìa!”

Chú vịt con nghe thấy thế nên rất xấu hổ, nó đành phải chạy nhanh hơn để Thỏ không trêu chọc nữa.

Khi chạy ngang qua khu rừng, chú khỉ đang ngồi trên cây nhìn xuống bỗng thấy vịt con chạy nhanh qua, nó cũng liền ôm bụng cười to: ” Nhìn kìa, vịt con không mặc đồ, lấy lá sen che người lòi cả mông ra kìa. Ha ha”

8. Truyện cổ tích loài vật – Bác Voi tốt bụng

Vào một buổi sáng mùa xuân đẹp trời, gà con rủ vịt con ra sân vườn chơi. Tại đây, Gà con rủ vịt con đi bắt sâu bọ, các con côn trùng gây hại cho các loại cây trong vườn. Do có mỏ nhọn nên gà con bắt sâu bọ rất nhanh và dễ dàng, nhưng vịt con lại không có mỏ nhọn nên không thể nào bắt sâu bọ giống gà con được. Đột nhiên, có một bác voi xuất hiện, bác voi này dùng chiếc vòi của mình để khều ra con sâu rồi đưa lại cho chú vịt con. Cả chú gà con và vịt con đều nói lời cảm ơn đến bác voi.

Tiếp đó, Vịt và gà con rủ nhau ra ao tập bơi. Chú vịt con bơi lội rất nhanh nhờ lớp màng được bọc ở chân, còn chú gà con do không biết bơi nên vô tình bị rớt xuống ao, làm cho toàn thân chú gà con bị ướt lạnh và dính đầy nước. Đúng lúc này, bác voi lại xuất hiện, bác voi liền cứu gà con đưa lên bờ, rồi bác rất vui vẻ còn đùa nghịch với gà con và vịt con bằng cách phun vòi nước lên người chúng. Cả gà và vịt con đều cười thật vui và chạy trốn đi, còn lũ ruồi bu đậu trên lưng bác voi vì sợ hãi quá cũng phải bay đi hết.

Ngoài ra, bác voi còn biết thổi kèn acmônica. Bác thổi hay đến nỗi làm cho gà con và vịt non đang chơi đùa chỗ khác cũng phải chạy tới đó để nghe, còn các chú chim đang đậu trên cây cũng phải ngừng hót để cùng nhau lắng nghe những giai điệu tuyệt vời mà bác voi đang thổi. Ngày hôm đó, chú gà và vịt con đều rất yêu quý bác voi tốt bụng này.

Với câu chuyện cổ tích loài vật này, khuyên các bé luôn thể hiện lòng tốt bụng, giúp đỡ người khác.

9. Truyện cổ tích loài vật – Rùa con tìm nhà

Chuyện cổ tích loài vật này nói về một chú rùa con nọ, khi mới được nở ra vài ngày đã nhanh chóng tìm kiếm ngôi nhà mình ở. Chú rùa thấy tổ ong trên cành cây cao, chú cứ nghĩ đó là nhà của mình, chú rùa con liền ngước cổ lên và hỏi: “Đấy có phải là ngôi nhà của mình không ạ?”.

Thay vì trả lời, cả một đàn ong liền bay xuống phía dưới khiến cho chú rùa con hoảng sợ quá nên liền thụt cổ vào mai rùa và nằm im như tượng.

Tiếp theo, chú rùa bò tới góc của một bức tường cũ. Chú có thấy một cái hang chuột nhỏ, rùa con đang tính chui vào trong hang thì liền bị một chú chuột từ bên trong chặn lại: ” Cái hang này là nhà ở của chúng tớ, chứ không phải ngôi nhà của bạn đâu, rùa ơi”. Thế là chú rùa con tiếp tục đi tìm ngôi nhà của mình, khi tới một dòng sông nhỏ, rùa con nghĩ rằng: ” Đây có thể là ngôi nhà mình sống ở dưới nước”. Vừa nói xong, rùa con liền nhảy xuống sông và bơi, bơi được một đoạn ngắn, chú rùa con lúc này đã đuối sức và mệt mỏi nên đành phải quay lại bò lên bờ.

Qua chuyện cổ tích loài vật trên, các bé nên suy nghĩ kĩ trước khi làm một việc gì đó, tránh sai sót, nhầm lẫn.

10. Truyện cổ tích loài vật về con hươu

Trong một khu rừng kia, có một bầy hươu đang đứng ăn cỏ bên cạnh dòng suối thơ mộng. Các con hươu đều sở hữu đôi mắt đen tròn, cùng với những bộ lông vàng và nâu mịn màng như nhung lụa cùng với những dấu hoa trắng xóa.

Trong lúc cả bầy hươu đang ăn cỏ thì bỗng xuất hiện một chú hươu con bước tới gần. Nhìn bộ dạng của chú hươu non trong rất vất vả với một chân bị thương, bộ lông thì bị dính đầy bùn đất, có lẽ chú hươu non này đã bị thương rất nặng.

Chú hươu non này tiến tới gần và nói: “Các bạn cho phép mình ăn cỏ cùng được không?”

Bầy hươu nghe nói vậy liền cùng đồng thanh trả lời: “Bạn cứ tới đây và ăn cỏ cùng với tụi mình!”

Sau đó, một vài con trong bầy hươu liền tiến tới tảng đá to và vươn hai chân ra phía trước và dùng gạc để cắt rụng mấy cái chồi và nói: ” Nè bạn ăn đi, nếu cần chúng mình sẽ lấy thêm cho bạn mấy cái nữa!”. Chú hươu con liền cảm ơn và ăn chúng rất ngon lành.

Ngay lúc đó, có một bác hươu già đi ngang qua và chứng kiến được cảnh bầy hươu đang giúp đỡ bạn hươu non, bác hươu già rất vui và tấm tắc khen: “Các cháu giỏi lắm!”

Nghe bác hươu khen như thế, cả bầy hươu đầy rất vui mừng vì đã làm được một việc tốt giúp đỡ mọi người xung quanh.

Chuyện Cổ Tích Về Loài Người

“Trời sinh ra trước nhất Chỉ toàn là trẻ con Trên trái đất trụi trần Không dáng cây ngọn cỏ”

Những câu thơ đáng yêu trên được trích từ bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ nổi tiếng Xuân Quỳnh. Hôm nay, Vườn cổ tích sẽ kể cho các bé nghe câu chuyện cổ tích về loài người được chuyển thể từ bài thơ trên với mục đích giúp các bé dễ hiểu và nắm bắt được một cách đầy đủ nhất nội dung cũng như ý nghĩa của bài thơ!

Chuyện là cách kể ngược về sự xuất hiện của loài người trên trái đất một cách rất thú vị. Từ đó khẳng định vai trò quan trọng của trẻ em – những mầm non đáng yêu rất cần được cha mẹ và người lớn bảo vệ.

Ngày xửa ngày xưa, bầu trời và mặt đất đều tối tăm, không có lấy một nhành cây, ngọn cỏ, cũng không có bất kì màu sắc gì. Khắp nơi đều thiếu vắng sự sống. Và rồi trên Trái đất thân yêu của chúng ta, tạo hóa đã ban tặng những em bé rất dễ thương, đáng yêu. Mắt chúng sáng lắm trong veo và hồn nhiên nhưng chúng chưa thấy được gì đâu. Thế rồi, mặt trời nhô lên cao tròn vành vạnh và soi sáng khắp không gian giúp cho những đôi mắt ấy được thấu tỏ.

Màu xanh bắt đầu từ ngọn cỏ cao bằng gang tay và nhỏ như sợi tóc, màu đỏ thì bắt đầu từ bông hoa nhỏ xíu như cái cúc. Những chú chim líu lo cất tiếng hót, làm bầu bạn với trẻ em và đem lại nguồn vui cho vạn vật. Gió nâng tiếng hót bay cao bay xa tới muôn trung mây, muôn trùng dặm.

Muốn trẻ con được tắm, sông suối bắt đầu xuất hiện đem đến dòng nước ngọt mát lành. Biển mênh mông sóng vỗ, đem lại nhiều cá to. Những cánh buồm lớn đưa trẻ em đi xa tới những chân trời mới, tìm tòi và khám phá.

Nhưng trẻ thơ cần lắm vòng tay của mẹ, lời ru ngọt ngào, tình yêu thương lớn lao vô bờ bến nên mẹ sinh ra để nâng niu, chăm sóc, dỗ dành. Những câu ca dao vọng về với cái bống cái bang, cánh cò trắng bay lả bay la, cây đa, mái nước, sân đình là quê hương thân thương hiện lên qua bao câu hát ru của bà, của mẹ. Nào sự tích thánh Gióng, sự tích trầu cau, sự tích Sọ Dừa, chuyện cô Tấm ở hiền, Lý Thông ở ác,… lần lượt hiện ra qua giọng kể ấm áp của bà, đưa trẻ em vào những miền cổ tích cực lạc. Nào ông Bụt, bà tiên, nào hoàng tử, công chúa xuất hiện trong giấc mơ của trẻ em về một cuộc sống tười đẹp, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác, người tốt nhất định được hưởng hạnh phúc, kẻ ác nhất định bị trừng trị thích đáng.

Ý Nghĩa Của Truyện Cổ Tích Sọ Dừa

Truyện cổ tích hấp dẫn người đọc bởi truyện đã chiếu rọi ánh sáng lạc quan tin tưởng vào cuộc sống. Để khắc hoạ nhân vật và cấu trúc nên cốt truyện, dân gian rất quan tâm, chú trọng đến các hành động của nhân vật chứ không quan tâm mô tả ngoại cảnh, ngoại hình và tâm lý nhân vật. Hình tượng nhân vật trong truyện cổ tíc h rất đa dạng, trong đó có kiểu nhân vật xấu xí. Các nhân vật xấu xí với vẻ ngoài dị dạng như con cóc, con dê, con ếch… có sự đối lập với vẻ xấu xí bên ngoài là vẻ đẹp bên trong của các nhân vật với tính cách hiền lành, chân thật, cao thượng và có một tâm hồn trong sáng, tình yêu chân thành. Sọ Dừa là điển hình cho kiểu nhân vật này, phân tích nhân vật và tác phẩm ta có thể thấy truyện dạy ta rất nhiều bài học triết lí.

Tóm tắt truyện cổ tích Sọ Dừa

Có đôi vợ chồng già hiếm muộn con cái, phải đi ở cho nhà phú ông. Một hôm bà vợ vào rừng hái củi, uống nước trong cái sọ dừa, về nhà có mang, ít lâu sau sinh ra một đứa bé kì dị, không chân không tay, tròn như một quả dừa. Thấy đứa bé biết nói, bà giữ lại nuôi và đặt luôn tên là Sọ Dừa.

Thương mẹ vất vả, Sọ Dừa nhận chăn đàn bò nhà phú ông. Cậu chăn bò rất giỏi, con nào cũng béo mượt. Ba cô con gái nhà phú ông thay nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị kênh kiệu thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô út đối đãi với cậu tử tế.

Phát hiện ra vẻ đẹp bên trong cái vẻ kì dị của Sọ Dừa, cô út đem lòng thương yêu. Sọ Dừa nhờ mẹ đến nhà phú ông hỏi vợ. Phú ông thách cưới thật lo nhưng thấy Sọ Dừa mang đủ đồ thách cưới đến, đành phải gả cô út cho chàng. Ngày cưới, Sọ Dừa hiện nguyên hình là một chàng trai trẻ đẹp khiến hai cô chị vô cùng ghen tức.

Nhờ chăm chỉ đèn sách Sọ Dừa thi đỗ trạng nguyên và được nhà vua cử đi, sứ nước ngoài. Trước khi đi chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà để đề phòng tai hoạ.

Sọ Dừa đi vắng, hai người chị tìm cách hãm hại cô út, đẩy cô xuống biển hòng cướp chồng em. Nhờ có các đồ vật chồng đưa cho, cô út thoát chết, được chồng cứu trên đường đi sứ về. Hai vợ chồng đoàn tụ. Hai cô chị xấu hổ bỏ nhà đi biệt tích.

Ý nghĩa của truyện cổ tích Sọ Dừa

Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của con người

Sọ Dừa là hình tượng điển hình nhất cho kiểu nhân vật có ngoại hình xấu xí nhưng lại có vẻ đẹp bên trong ngời sáng, đẹp đẽ và nhân hậu. Đọc truyện cổ tích Sọ Dừa, có thể thấy mối quan hệ giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật. Về hình thức bề ngoài, Sọ Dừa dị dạng (tròn như sọ dừa) đối lập với phẩm chất bên trong (thông minh, tài giỏi). Sự đối lập giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của Sọ Dừa khẳng định giá trị bản chất và chân chính của con người

Người xưa có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, ý muốn nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn con người mới là cái quyết định, không nên có sự khinh miệt đối với ngoại hình xấu xí của một con người. Sự thật đã chứng minh, Sọ Dừa có khả năng làm tốt tất cả những việc mà những người bình thường có thế làm được, thậm chí tốt hơn. chàng chăn bò rất giỏi, thổi sáo rất hay, tự tin (chăn bò, giục mẹ hỏi con gái phú ông làm vợ và lo đủ sính lễ theo điều kiện phú ông đặt ra), thông minh (thi đỗ Trạng nguyên), có tài dự đoán tương lai chính xác (khi đi xứ, đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn vợ phải luôn giắt trong người). Điều đó chứng tỏ vẻ đẹp bên trong mới là vẻ đẹp vĩnh cửu và trường tồn.

Ca ngợi vẻ đẹp của Sọ Dừa, truyện đồng thời cũng phản ánh một hiện thực bất công trong cuộc sống, những con người bất hạnh có ngoại hình xấu xí phải chịu đựng sự chê bai dè bỉu của người đời. Họ không dám lên tiếng mà để cho những áng truyện viết thay họ

Kín đáo truyền tải thông điệp yêu thương những người khác mình.

Để yêu thương một người là một điều tương đối dễ dàng, nhưng để yêu thương ai đó khác mình lại là một điều thật khó. Con người ta vẫn thường tự tin mình có tấm lòng nhân hậu, vị tha cho đến khi đối mặt với những người khác biệt mình, họ tự cho mình có quyền được phán xét, được bình phẩm người khác, họ tự cho mình quyền được đặt bản thân lên trên quyền được sống và yêu thương của đồng loại. Sọ Dừa không chỉ đơn thuần là câu chuyện cổ tích viết cho trẻ con, nó là một lưỡi dao rất tinh tế xoáy sâu vào hiện thực của sự thật, vừa đủ để ta nhận ra rằng liệu có chăng ta cần phải học cách yêu thương lại từ đầu. Ta cần yêu phẩm chất và tài năng của họ, công nhận sự nỗ lực của họ. Các nhân vật này không phải là quái vật mà chỉ là sự khác biệt, họ xứng đáng được đối xử như những người bình thường khác. Ta nên hành xử với họ như cách cô Út đã làm với Sọ Dừa

Khi đánh giá con người: phải xem xét toàn diện, không chỉ dừng lại ở biểu hiện bề ngoài. Đó là ý nghĩa nhân bản, thể hiện đạo lý truyền thống của nhân dân. Truyện còn đề cao lòng nhân ái: “Thương người như thể thương thân”. Chính lòng nhân ái sẽ đem lại hạnh phúc cho con người.

Khát vọng được đổi đời

Xã hội phong kiến được biết tới là xã hội phân biệt giàu nghèo, tầng lớp vô cùng lớn. Không phải ngẫu nhiên mà có câu thơ:

Con vua thì lại làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

Một sự thật là những người ở tầng lớp dưới rất khó để tiếp cận với địa vị cao chỉ bằng tài năng của mình. Những con người bần cùng không có cơ hội để thực hiện ước mơ của mình, họ phải chịu miệt thị bởi ngoại hình xấu xí, sự nghèo khó cũng như đau khổ mà họ không đáng phải gánh, họ không biết phải gửi những lời than này đi đâu, chỉ biết viết vào những truyện cổ tích. Sọ Dừa có hình dạng xấu xí nhưng cuối cùng đã được trút bỏ lốt, cùng cô út hưởng hạnh phúc, còn hai cô chị phải bỏ nhà trốn đi. Qua kết cục này, người lao động xưa thể hiện những mơ ước về sự đổi đời: Sọ Dừa từ thân phận thấp kém, xuất thân trong một gia đình đi ở, dị hình xấu xí… trở thành người đẹp đẽ, có tình thương và thông minh tài giỏi, được hưởng hạnh phúc.

Đó là sự đổi ngôi giữa các tuyến nhân vật, kẻ lương thiện tài năng cần được quay trở về với đúng vị trí mình, đó đã là chân lý muôn thuở .

Như vậy, Sọ Dừa đã truyền tải rất nhiều ý nghĩa hay đến bạn đọc, ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, kín đáo lên án xã hội bất công, đồng thời thể hiện khát vọng chiến thắng cái ác của người dân

Thảo Nguyên

Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Tấm Cám

Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ. Người chị tên là Tấm còn em là Cám. Mẹ của Tấm đã mất từ sớm, còn cha cũng qua đời sau đó mấy năm. Để lại Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám.

Bà mẹ kế vô cùng cay nghiệt và độc ác. Ngày qua ngày, bà ta bắt Tấm phải làm hết những công việc nặng nhọc trong nhà từ việc chăn trâu, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo, đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Ngược lại, Cám lại vô cùng được chiều chuộng, được ăn trắng mặc trơn, suốt ngày quanh quẩn ở nhà, không phải làm bất cứ việc gì.

Một hôm người dì ghẻ đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng xúc tép và hứa rằng: “Nếu đứa nào bắt được đầy giỏ tép thì sẽ được thưởng một cái yếm đỏ”. Nghe lời của mẹ, Tấm chăm chỉ siêng năng nên chẳng mấy chốc mà đã được một giỏ đầy vừa cá vừa tép. Còn Cám thì mải chơi, dạo hết từ ruộng nọ sang ruộng kia, hái hoa bắt bướm nên mãi đến chiều mà chẳng bắt được gì.

Thấy Tấm bắt được một giỏ đầy, Cám bảo chị:

– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng.

Nghe Cám nói vậy, Tấm tin là thật nên liền xuống ao tắm rửa cho sạch. Nhân cơ hội đó, Cám liền trút hết tép của Tấm vào giỏ của mình rồi chạy nhanh về nhà. Lúc lên bờ Tấm thấy chỉ còn lại chiếc giỏ trống không, Tấm ngồi xuống và bưng mặt khóc.

Nghe thấy tiếng khóc của Tấm, ông Bụt hiện lên và hỏi:

Bấy giờ Bụt đang ngồi trên tòa sen, bỗng nghe tiếng khóc của Tấm, liền hiện xuống hỏi :

– Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể lể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Thôi con hãy nín đi ! Con thử nhìn vào giỏ xem còn có gì nữa không?

Tấm nhìn vào giỏ rồi nói :

– Chỉ còn một con cá bống.

– Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, đáng ăn ba bát thì con ăn hai còn một đem thả xuống cho bống. Mỗi lần cho ăn con nhớ gọi như thế này :

Bống bống bang bang

Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta

Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.

Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy !

Nói xong Bụt biến mất. Tấm theo lời Bụt thả bống xuống giếng. Rồi từ hôm ấy trở đi, cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đưa ra cho bống. Mỗi lần nghe Tấm gọi, bống lại ngoi lên mặt nước đớp những hạt cơm của Tấm ném xuống. Người và cá ngày một quen nhau, và bống ngày càng lớn lên trông thấỵ

Thấy Tấm sau mỗi bữa ăn thường mang cơm ra giếng, mụ gì ghẻ sinh nghi, bèn bảo Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây bên bờ giếng nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm lấy cho thuộc rồi về kể lại cho mẹ nghe.

Tối hôm ấy mụ dì ghẻ bảo Tấm sáng mai dậy sớm chăn trâu, và dặn:

– Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu.

Tấm vâng lời, sáng hôm sau đưa trâu đi ăn thật xa. Ở nhà, mẹ con Cám mang bát cơm ra giếng cũng gọi bống lên ăn y như Tấm gọi. Nghe lời gọi, bống ngoi lên mặt nước. Mẹ Cám đã chực sẵn, bắt lấy bống đem về nhà làm thịt.

Đến chiều Tấm dắt trâu về, sau khi ăn xong Tấm lại mang bát cơm để dành ra giếng, Tấm gọi nhưng chả thấy bống ngoi lên như mọi khi. Tấm gọi mãi, gọi mãi, cuối cùng chỉ thấy cục máu nổi lên mặt nước. Biết là có sự chẳng lành cho bống, Tấm òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

– Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi ! Rồi về nhặt xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới bốn chân giường con nằm.

Tấm trở về theo lời Bụt đi tìm xương bống, nhưng tìm mãi các xó vườn góc sân mà không thấy đâu cả. Một con gà thấy thế, bảo Tấm :

– Cục ta cục tác ! Cho ta nắm thóc, ta bưới xương cho !

Tấm bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bới một lúc thì thấy xương ngay. Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào lọ và đem chôn dưới chân giường như lời bụt dặn.

Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Già trẻ gái trai các làng đều nô nức đi xem, trên các nẻo đường, quần áo mớ ba mớ bẩy dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi trẩy hội. Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó mụ lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, bảo Tấm:

– Con hãy nhặt xong cho dì chỗ gạo này rồi có đi đâu hãy đi, đừng có bỏ dở, về không có gì để thổi cơm dì đánh đó.

Nói đoạn, hai mẹ con quần áo xúng xính lên đường. Tấm ngồi nhặt một lúc, thấy suốt ruột, nghĩ rằng không biết bao giờ mới nhặt xong, bèn ngồi khóc một mình. Giữa lúc ấy Bụt hiện lên hỏi:

– Con làm sao lại khóc?

Tấm chỉ vào cái thúng, thưa:

– Dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội, lúc nhặt xong thì hội đã tan rồi còn gì mà xem.

Bụt bảo:

– Con đừng khóc nữa. Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp.

– Nhưng ngộ nhỡ chim sẻ ăn mất thì khi về con vẫn cứ bị đòn.

– Con cứ bảo chúng nó thế này:

Rặt rặt (con chim sẻ ) xuống nhặt cho tao

Ăn mất hạt nào thì tao đánh chết

Thì chúng nó sẽ không ăn của con đâu.

Tự nhiên ở trên không có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một đằng, gạo ra một nẻo. Chúng nó lăng xăng ríu rít chỉ trong một lát đã làm xong, không suy suyển một hạt. Nhưng khi chim sẻ bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại bảo:

– Con làm sao lại khóc?

– Con rách rưới quá, người ta không cho con vào xem hội.

– Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ thứ cho con trẩy hội.

Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Đào lọ thứ nhất lấy ra được một cái áo mớ ba, một cái áo xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu. Đào lọ thứ hai lấy ra được một đôi giầy thêu. Đào lọ thứ ba thì thấy một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuông đất bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn.

Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi thắng bộ vào, đoạn cưỡi lên ngựa mà đi. Ngựa phóng một chốc đã đến kinh đô. Nhưng khi phóng qua một chỗ lội, Tấm đánh rơi một chiếc giầy xuống nước không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở đám hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giầy còn lại rồi chen vào biển người.

Giữa lúc ấy thì đoàn xa giá vừa tiến đến chỗ lội. Hai con voi ngự dẫn đầu đoàn đến đấy tự nhiên cắm ngà xuống đất kêu rống lên, không chịu đi. Vua sai quân lính xuống nước thử tìm xem, họ nhặt ngay được một chiếc giầy thêu của Tấm lúc nẫy đánh rơi xuống đó. Vua ngắm nghía chiếc giầy không chán mắt. Bụng bảo dạ:” Chà, một chiếc giầy thật xinh! Người đi giầy này hẳn phải là trang tuyệt sắc”.

Lập tức Vua hạ lệnh cho rao mời tất cả đám đàn bà con gái xem hội ướm thử, hễ ai đi vừa chiếc giầy thì vua sẽ lấy làm vợ. Đám hội lại càng náo nhiệt vì các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử giầy. Cô nào cô ấy lần lượt kéo vào ngôi lầu giữa bãi cỏ rộng để ướm một tí cầu may. Nhưng chẳng có một chân nào đi vừa cả. Mẹ con Cám cũng trong số đó. Khi Cám và dì ghẻ bước ra khỏi lầu thì gặp Tấm, Cám mách mẹ:

– Mẹ ơi, ai như chị Tấm cũng đi thử giầy đấy!

Mụ dì ghẻ bĩu môi:

– Con nỡm, chuông khánh còn chẳng ăn ai nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!

Nhưng khi Tấm đặt chân vào giầy thì vừa như in. Nàng mở khăn lấy luôn chiếc thứ hai đi vào. Hai chiếc giầy giống nhau như đúc. Bọn lính hầu hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn tỳ nữ rước nàng vào cung. Tấm bước lên kiệu trước con mắt ngạc nhiên và hằn học của mẹ con Cám.

Tuy sống sung sướng trong hoàng cung. Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha. Nàng xin phép vua trở về nhà để soạn cỗ cúng giúp dì. Mẹ con Cám thấy Tấm sung sướng thì ghen ghét để bụng. Nay thấy Tấm về, lòng ghen ghét lại bùng bốc lên. Nghĩ ra được một mưu, mụ dì ghẻ bảo Tấm:

– Trước đây con quen trèo cau, con hãy trèo lên xé lấy một buồng cau để cúng bố.

Tấm vâng lời trèo lên cây cau, lúc lên đến sát buồng thì ở dưới này mụ dì ghẻ cầm dao đẵn gốc. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi :

– Dì làm gì dưới gốc thế ?

– Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến cho nó khỏi lên đốt con.

Nhưng Tấm chưa kịp xé cau thì cây cau đã đổ. Tấm ngã lộn cổ xuống ao chết. Mụ dì ghẻ vội vàng lột áo quần của Tấm cho con mình mặc vào cung nói dối với vua rằng Tấm không may bị rơi xuống ao chết đuối, nay đưa em vào để thế chị. Vua nghe nói trong bụng không vui, nhưng vẫn không nói gì cả.

Lại nói chuyện Tấm chết hóa thành chim Vàng anh, chim bay một mạch về kinh đến vườn ngự. Thấy Cám đang giặt áo cho vua ở giếng, Vàng anh dừng lại trên cành cây, bảo nó:

– Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.

Rồi chim Vàng anh bay thẳng vào cung rồi đậu ở cửa sổ, hót lên rất vui tai. Vua đi đâu, chim bay đến đó. Vua đang nhớ Tấm không nguôi, thấy chim quyến luyến theo mình, vua bảo:

– Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo.

Chim vàng anh bay lại đậu vào tay vua rồi rúc vào tay áo. Vua yêu quý vàng anh quên cả ăn ngủ. Vua sai làm một cái lồng bằng vàng cho chim ở. Từ đó, ngày đêm vua chỉ mải mê với chim, không tưởng đến Cám.

Cám vội về mách mẹ. Mẹ nó bảo cứ bắt chim làm thịt ăn rồi kiếm điều nói dối vua. Trở lại cung vua, nhân lúc vua đi vắng, Cám bắt chim làm thịt nấu ăn rồi vứt lông chim ở ngoài vườn.

Thấy mất Vàng anh, vua hỏi, Cám đáp:

– Thiếp có mang, thèm ăn thịt chim, nên trộm phép bệ hạ đã giết thịt ăn mất rồi.

Vua không nói gì cả. Lông chim vàng anh chôn ở vườn hoá ra hai cây xoan đào. Khi vua đi chơi vườn ngự, cành lá của chúng sà xuống che kín thành bóng, như hai cái lọng. Vua thấy cây đẹp rợp bóng, sai lính hầu mắc vọng vào hai cây rồi nằm chơi hóng mát. Khi vua đi khỏi thì cành cây lại vươn thẳng trở lại. Từ đó, không ngày nào Vua không ra nằm hóng mát ở hai cây xoan đào.

Cám biết chuyện ấy lại về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi rồi kiếm điều nói dối vua. Về đến cung, nhân một hôm gió bão, Cám sai thợ chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Thấy cây bị chặt, vua hỏi thì Cám đáp:

– Cây bị đổ vì bão, thiếp sai thợ chặt làm khung cửi để dệt áo cho bệ hạ.

Nhưng khi khung cửi đóng xong. Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe thấy tiếng khung cửi rủa mình :

Cót ca cót két

Lấy tranh chồng chị.

Chị khoét mắt ra

Thấy vậy Cám sợ hãi, vội về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo đốt quách khung cửi, rồi đem tro đi đổ cho rõ xa để được yên tâm. Về đến cung, Cám làm như lời mẹ nói. Nó đem tro đã đốt đi đổ ở lề đường cách xa hoàng cung. Đống tro bên đường lại mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuê. Đến mùa có quả, cây thị chỉ đậu được có một quả, nhưng mùi thơm ngát tỏa ra khắp nơi. Một bà lão hàng nước gần đó có một hôm đi qua dưới gốc, ngửi thấy mùi thơm, ngẩng đầu nhìn lên thấy quả thị trên cành cao, bèn giơ bị ra nói lẩm bẩm:

– Thị ơi thị à, rụng vào bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn.

Bà lão nói vừa dứt lời, thì quả thị rụng ngay xuống đúng vào bị. Bà lão nâng niu đem về nhà cất trong buồng, thỉng thoảng lại vào ngắm nghía và ngửi mùi thơm.

Ngày nào bà lão cũng đi chợ vắng. Từ trong quả thị chui ra một cô gái thân hình bé nhỏ như ngón tay, nhưng chỉ trong chớp mắt đã biến thành Tấm. Tấm vừa bước ra đã cầm lấy chổi quét dọn nhà cửa sạch sẽ, rồi đi vo gạo thổi cơm, hái rau ở vườn nấu canh giúp bà hàng nước. Đoạn Tấm lại thu hình bé nhỏ như cũ rồi chui vào quả thị. Lần nào đi chợ về, bà lão cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm ngon, canh ngọt sẵn sàng, thì lấy làm lạ.

Một hôm bà hàng nước giả vờ đi chợ, đến nửa đường lại lén trở về, rình ở bụi cây sau nhà. Trong khi đó, Tấm từ quả thị chui ra rồi cũng làm việc như mọi lần. Bà lão rón rén lại nhìn vào khe cửa. Khi thấy cô gái xinh đẹp thì bà mừng quá, bất thình lình xô cửa vào ôm choàng lấy Tấm, đoạn xé vụn vỏ thị. Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương nhau như hai mẹ con. Hàng ngày Tấm giúp bà lão các việc thổi cơm, nấu nước, gói bánh, têm trầu để cho bà bán hàng.

Một hôm vua đi chơi ra khỏi hoàng cung, Thấy có quán nước bên đường sạch sẽ, bèn ghé vào. Bà lão mang trầu nước dâng lên vua. Thấy trầu têm cánh phượng, vua sực nhớ tới trầu vợ mình têm ngày trước cũng y như vậy, liền phán hỏi :

– Trầu này ai têm?

– Trầu này con gái lão têm – bà lão đáp.

– Con gái của bà đâu, gọi ra đây cho ta xem mặt.

Bà lão gọi Tấm ra. Tấm vừa xuất hiện, vua nhận ra ngay vợ mình ngày trước, có phần trẻ đẹp hơn xưa. Vua mừng quá, bảo bà lão hàng nước kể lại sự tình, rồi truyền cho quân hầu đưa kiệu rước Tấm về cung.

Cám Thấy Tấm trở về và được vua yêu thương như xưa, thì nó không khỏi sợ hãi. Một hôm, Cám hỏi chị :

– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Chị làm thế nào mà đẹp thế ?

Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:

– Có muốn đẹp không để chị giúp !

Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Tấm sai đem xác làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon. Một con quạ ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà kêu rằng:

– Ngon ngỏn ngòn ngon ! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.

Mẹ Cám giận lắm, chửi mắng ầm ĩ rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy đầu lâu của con thì kinh hoàng lăn đùng ra chết.

XEM VIDEO TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM

BÀI VĂN PHÂN TÍCH Ý NGHĨA TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM

Dịu dàng là thế Tấm ơi

Mà sao em phải thiệt thòi, vì sao?

Phận nghèo hôm sớm dãi dầu

Hóa bao nhiêu kiếp, ngọt ngào, đa đoan.

Tấm Cám – thiên truyện cổ tích ngàn đời sau vẫn còn day dứt mãi khôn nguôi trong lòng người đọc. Là tác phẩm khác biệt nhất trong những truyện cổ tích ta đã từng gặp, hình tượng nhân vật được khắc họa thành công đến nỗi in sâu vào trí nhớ của biết bao thế hệ. Họa và nhạc, thơ và văn hội tủ trong một tác phẩm của những người dân chưa qua trường lớp đào tạo nào. Đây là tác phẩm hội tủ đầy đủ nhất những ý nghĩa nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm.

Vài nét về tác phẩm

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm vốn hiền lành, xinh đẹp lại chăm chỉ. Cha mẹ mất sớm, Tấm phải sống cùng dì ghẻ và Cám. Mọi công việc trong nhà đều đến tay nhưng vẫn bị mẹ con Cám ngược đãi, tìm cách hãm hại.

Một hôm nọ, dì ghẻ đưa cho hai chị em một cái giỏ và bảo rằng: “Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yếm đỏ!”. Tấm làm việc chăm chỉ để lấy được chiếc yếm. Còn Cám chỉ mải chơi nên đến cuối buổi chẳng bắt được gì. Cám bèn lừa nói với Tấm rằng: “Chị Tấm ơi chị Tấm, đầu chị lấm, chị hụp cho sâu kẻo về mẹ mắng”. Tấm nghe lời Cám, đến khi lên bờ, nhìn vào rổ thì không còn thấy tôm tép đâu. Tấm chỉ biết ngồi khóc. Bỗng nhiên, Bụt hiện lên bảo Tấm rằng hãy nhìn vào trong gió xem có thấy gì không. Thì ra, trong giỏ vẫn còn một con cá bống. Tấm đem cá bống về nuôi, ngày ngày cho ăn. Mẹ con Cám biết được liền lừa Tấm đi chăn trâu đồng xa để bắt lên giết thịt. Tấm trở về không thấy cá bống đâu, liền bật khóc. Bụt hiện lên bảo Tấm lấy xương cá bống bỏ vào bốn chiếc lọ, chôn vào bốn chân giường. Ít lâu sau, vua mở hội, mẹ con Cám sắm sắm sửa quần áo đẹp để đi chơi hội. Dì ghẻ không cho Tấm đi, mụ nghĩ ra cách lấy thóc và gạo trộn lẫn với nhau, bắt Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo rồi mới được đi. Tấm không biết làm thế nào lại ngồi khóc. Bụt lại hiện lên sai chim sẻ nhặt thóc giúp. Chim sẻ nhặt một thoáng đã xong. Sau đó, Bụt liền bảo Tấm đào bốn chiếc lọ ở bốn chân giường lên. Bốn chiếc lọ biến thành quần áo đẹp giúp Tấm đi dự hội. Trên đường đi, Tấm đánh rơi chiếc hài xuống nước. Khi ngựa của vua đi ngang qua cứ đứng lại không chịu đi tiếp. Vua sai người xuống nước thì thấy chiếc hài. Vua truyền lệnh cho toàn dân ai đi vừa hài sẽ được làm vợ vua. Tấm đi vừa đôi hài và trở thành vợ vua. Đến ngày giỗ cha, Tấm về nhà thì bị mẹ con Cám bày kế giết chết. Tấm chết đi lần lượt hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị, cuối cùng trở lại làm người sống cùng bà hàng nước. Một hôm, vua tình cờ đi quá liền ghé vào hàng nước. Nhìn thấy miếng trầu têm cánh phượng liền dò hỏi bà. Cuối cùng, vua và Tấm đã được đoàn tụ.

Ý nghĩa của tác phẩm

Khắc họa những mâu thuẫn cơ bản của xã hội phong kiến

Tấm Cám đào rất sâu những mâu thuẫn tồn tại trong hiện thực, thể hiện sự trải nghiệm sâu sắc của người tác giả. Thứ nhất, đó là mâu thuẫn giữ mẹ ghẻ – con chồng:

Mấy đời bánh đúc có xương

Mấy đời mẹ ghẻ lại thương con chồng

Mâu thuẫn này phát triển từ thấp đến cao: ban đầu chỉ là những hơn thua về vật chất, tinh thần, sự ganh ghét mẹ ghẻ con chồng,…Khi đó, Tấm luôn là người nhường nhịn, chịu thua thiệt. Càng về sau mâu thuẫn chuyển thành sự đố kị, một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau. Đây là những mâu thuẫn trong gia đình phụ quyền thời cổ. Mẹ ghẻ không có được tình yêu thương thật sự, quá ích kỉ và tính toán thiệt hơn. Điều này khiến mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng không thể giải quyết, buộc phải có một bên thua cuộc. Con riêng của chồng ngày xưa phải chịu rất nhiều khổ cực mà lại không có tiếng nói. Vì vậy tác giả mới lên tiếng mạnh mẽ bóc trần và đả kích nó.

Thứ hai là mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác. Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất luôn được khắc họa trong tất cả các truyện cổ tích. Nhưng đối với Tấm Cám, mâu thuẫn này được khắc họa sâu hơn bất kì tác phẩm nào khác. Cái ác được đưa lên đỉnh điểm khiến người ta phải phẫn nộ. Cái ác liên tục bày mưu tính kế, chặn đứng con đường tiến tới hạnh phúc của Tấm. Mức độ độc ác tăng theo từng chi tiết truyện khiến người đọc phải phẫn nộ, không thể không căm phẫn.

Con đường đấu tranh giành hạnh phúc của Tấm – khi người tốt không còn phụ thuộc vào thế lực siêu nhiên mà đã biết phản kháng

Ở những tác phẩm khác, nhân vật thường giựa vào sự giúp đỡ của ông Bụt, bà tiên, hoặc thân thế khác biệt để có thể sống sót qua những thủ đoạn của phe phản diện. Nhưng với Tấm Cám, Tấm được xây dựng với tính cách mạnh mẽ, phản kháng mãnh liệt để dành bằng được hạnh phúc đáng ra thuộc về mình đã bị cướp.

Sự phản kháng này được thể hiện qua những lần hóa thân của Tấm. Lúc đầu, tấm chỉ biết khóc lóc, hoàn toàn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của thần linh, mâu thuẫn được giải quyết nhanh chóng. Song về sau, khi mâu thuẫn được đưa lên đỉnh điểm, tính cách của Tấm theo đó cũng trở nên mạnh mẽ theo, không còn khóc mà đã biết dùng lời nói và hành động để đe dọa mẹ con Cám:

Cót ca cót két

Lấy tranh chồng chị

Chị khoét mắt ra

Những hành động này rất phù hợp với quá trình phát triển trong tư tưởng đấu tranh của Tấm. Dù bị mẹ con Cám tìm mọi cách tận diệt, Tấm vẫn tái sinh dưới các dạng thức khác nhau (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Càng về sau, Tấm càng đấu tranh quyết liệt để giành lại sự sống. Qua những lần biến hóa, dân gian muốn khẳng định: cái thiện không bao giờ chịu khuất phục, chính nghĩa không bao giờ đầu hàng, cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí. Đó là nguyên nhân quan trọng nhất làm nên chiến thắng.

Bài học về ác giả ác báo

Hai mẹ con Cám 5 lần 7 lượt tìm mọi cách hãm hại Tấm, tìm mọi cách không cho Tấm ngóc đầu lên được, giết chết Tấm chưa đủ, chúng còn tiêu diệt cả những hóa thân của Tấm, không cho Tấm trở về với thế giới con người. Nhưng điều gì đến thì nó cũng sẽ phải đến dù sớm hay muộn, hai mẹ con Cám đã bị trừng phạt thích đáng cho những gì mà họ đã gây ra.

Rất nhiều người cho rằng Tấm trả thù 2 mẹ con Cám như vậy là quá độc ác, quá khác so với hình ảnh một cô Tấm thảo hiền, yếu đuối. Nhưng kết thúc truyện như vậy mới thấy rõ giá trị nhân văn của tác phẩm, thấy rõ những triết lí mà tác giả dân gian muốn gửi gắm. Mẹ con Cám đã bao lần hãm hại Tấm, đã giết chết Tấm không biết bao nhêu lần, Tấm cần phải mạnh tay để cái ác không có cơ hội tồn tại và phát triển.

Tấm Cám xứng đáng là một trong tác phẩm hay nhất của văn học dân gian Việt Nam.