Top 13 # Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Tràng Giang / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Phân Tích Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Tràng Giang / 2023

Đề bài: Phân tích ý nghĩa nhan đề bài Tràng Giang

Bài làm

Say mê sống và cũng say mê sáng tạo, Huy Cận là người đam mê thơ ca từ nhỏ. Có lẽ không chỉ vì không khí gia đình, quê hương mà căn bản vì ông mang một tâm hồn thơ nhạy cảm. Đặc biệt, như Xuân Diệu đã từng nói về Huy Cận rằng: “Huy cận đặc biệt nhạy cảm với những vùng hoang vắng trong tâm hồn”. Bài thơ “Tràng Giang” là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ u buồn vẩn vơ của tuổi trẻ khi sống trong giai đoạn trước cách mạng Tháng Tám. Ngay từ nhan đề thơ đã khiến cho độc giả đắm chìm với những cảm xúc độc đáo chất chứa qua hai từ “Tràng giang”.

Nhan đề tựa như chìa khóa để mở cánh cửa. Con người ta nhìn mặt đặt tên, cũng như các nhà thơ phải mất rất nhiều thời gian để đặt một cái tên thật hàm súc cho những “ đứa con tinh thần” của mình. Như Ngô Tất Tố có tiểu thuyết “ Tắt đèn”, Nam Cao có “ Chí Phèo” thì Huy Cận có “ Tràng Giang” vậy. “ Tràng Giang” cũng chính là “ Trường Giang” có nghĩa là sông dài. Chẳng phải vô tình, mà Huy Cận đã cố tình sử dụng âm “ ang” trong từ “ tràng” tựa như kéo dài hình ảnh con sông. Sông Hồng là con con sông dài rộng bậc nhất Việt Nam, nó uốn quanh bao trọn lãnh thổ Một âm hưởng vang lên rộng lớn trên khoảng không gian dài rộng, hùng vĩ của con sông kia. Nhan đề ấy không chỉ để diễn tả lại vẻ rộng lớn của con sông Hồng, nó còn bao quát, ôm trọn tâm hồn con người. Nơi đây đang có một thi nhân luôn cảm thấy cô đơn, lạc lõng với đất trời, con người. Sông càng dài, nước càng mênh mang, cũng như đời sống càng lâu, con người ta càng dễ cảm thấy cô đơn. Những bế tắc chồng chất không lối thoát, những mộng tưởng hoài bão của con người trước cách mạng khi chưa thể tìm thấy lối đi đúng đắn, chưa được Đảng dẫn bước soi sáng.

Nhan đề “ Tràng Giang” đã thay bao lời muốn nói của tác giả về cuộc đời của mình. Nỗi buồn của Huy Cân lan tỏa cùng dòng sông, cùng cảnh vật. Tựa như đang muốn tìm một nơi để gửi gắm cho hết mọi suy nghĩ, tâm tư.

Bàn về lời đề, bìa bài thơ “ Tràng Giang” có lời đề ” Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Không phải tác phẩm nào cũng có những lời đề như vậy. Lời đề tựa như một chiếc chìa khóa phụ, song hành cùng với nhan đề để giúp độc giả từng chút khám phá nội dung của tác phẩm. Khi nhan đề chỉ ngắn tựa đôi chữ không thể lột tả được hết dụng ý của tác giả, thì nhà thơ mượn lời đề “ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” để tiếp tục cung cấp cho người đọc hai tư liệu chính: trời rộng và sông dài nhằm định hướng cho người đọc có thể mường tượng được những hình ảnh chủ đạo của bài thơ. Điều này cũng được kết tinh trong hai câu thơ chính trong bài Tràng Giang:

“ Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu.”

“ Là Tràng giang khổ nào cũng dập dềnh sống nước, là Huy Cận khổ nào cũng lặng lẽ u sầu”. Nỗi lòng của Huy Cận cũng trải dài khắp các dòng thơ tựa như nhan đề vậy. Huy Cận muốn mở ra một không gian rộng lớn, mênh mang từ dòng sông sang cả lòng người. “ Dòng sông uốn khúc, lòng người có lúc”, đứng trước dòng sông Hồng hùng vĩ cùng biết bao ngã rẽ con đường phía trước, biết rồi ngày mai sẽ đi đâu về đâu. Nhan đề “ Tràng giang” hàm chứa biết bao ý nghĩa, tâm tư của tâm hồn Huy Cận sẽ còn mãi có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới người đọc qua biết bao thế hệ.

Nguồn: Tài liệu văn

Hoàn Cảnh Sáng Tác Và Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ “Tràng Giang” / 2023

Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa nhan đề bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận

Huy Cận là một nhà thơ sinh ra và lớn lên trong thời kì Pháp thuộc, bởi vậy thơ ông vừa mang hướng cổ xưa của thơ Đường, cũng chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp. Được sáng tác vào một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi Huy Cận vừa tròn 20 tuổi, bài thơ “Tràng giang” mang đậm phong vị thơ Đường và được đánh giá là tác phẩm hay nhất, tiêu biểu nhất cho hồn thơ Huy Cận.

Huy Cận từng viết: “Tôi có thú vui thường vào ngày chủ nhật hằng tuần đi lên vùng Chèm, Vẽ để ngoạn cảnh sông Hồng và hồ Tây. Phong cảnh sông nước đẹp gợi cho tôi nhiều cảm xúc. Tuy nhiên, bài thơ không chỉ do sông Hồng gợi cảm hứng mà còn mang cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương”. Đứng trước dòng sông Hồng mênh mang – con sông đầy vị phù sa mà đất mẹ đã bồi tụ nên, tình yêu nước, yêu quê hương cùng những tâm sự sâu thẳm trong lòng tác giả như được con sông khơi lên và bộc lộ tất cả qua bài thơ “Tràng giang”.

“Tràng giang” – nhan đề chỉ gồm hai chữ nhưng mang bao ý nghĩa. “Tràng” (trường) là dài, “giang” là sông. Hai từ ghép lại với ý nghĩa sông dài, sông rộng lớn, cũng mang ẩn ý về nỗi lòng tác giả buồn đến mênh mang. Với nhan đề này, ta thấy được chất thơ Đường đã có sự ảnh hưởng rất lớn tới Huy Cận. Viết về con sông Hồng và mang trong mình cảm xúc chung về những con sông quê hương khác, Huy Cận không chỉ muốn miêu tả một con sông với bóng hình chân thực của nó nữa, nhà thơ đã phóng bút tạo nên một dòng sông đầy những cảm xúc của lòng người.

Vốn mang trong mình sự cô đơn, xa nhà, xa quê, Huy Cận càng nhìn sông Hồng rộng lớn và mênh mông thì lại càng sầu não. Chàng trai trẻ nhớ về miền Hà Tĩnh quê mình, lại thấy sao kiếp người nhỏ bé, chênh vênh. Gió thu nhẹ thổi làm tâm hồn thi sĩ càng thêm buồn. Nhìn về phía dòng sông – nơi chợ chiều vắng vẻ, hoang sơ, nơi mước mênh mang chẳng có một bóng con đò chở khách, Huy Cận nhớ nhà. Một nỗi sầu mà ai xa quê cũng từng gặp, nhưng đâu chỉ có thế. Với nhan đề bài thơ, người ta còn liên tưởng tới một chàng trai đau khổ khi nhìn cảnh đau thương mà thực dân Pháp đã gây nên, muốn đứng lên, muốn đấu tranh cho dân tộc nhưng chẳng thấy một ngã rẽ nào mà cuối con đường có ánh sáng. Những muộn phiền về gia đình, quê hương, những tình yêu thân thuộc đối với đất nước, dân tộc,… Nhưng sóng nước cứ mênh mang giống như kiếp người vô định, lòng tác giả như chán chường hơn.

Từ nơi sông Hồng rộng và dài cùng cảm xúc của Huy Cận đã tạo nên nhan đề “Tràng giang” đậm phong vị thơ Đường, bộc bộ được tâm sự của nhà thơ trước nỗi nhớ khôn nguôi, tạo nên mạch thơ xuyên suốt cho hồn thơ Huy Cận trong thời kì đầu của phong trào Thơ mới.

Nguồn: [Văn học 11] Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa nhan đề bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận

Phân Tích Nhan Đề Và Lời Đề Từ Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận / 2023

Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận – Bài làm 1

Huy Cận là nhà thơi tiêu biểu của phong trào Thơ mới với hai phong cách sáng tác theo từng thời kì của lịch sử. Một giọng thơ u uất, sầu não trước cách mạng tháng Tám đối lập với giọng thơ sôi nổi, hào hùng sau cách mạng tháng Tám. Bài thơ “Tràng giang” tiêu biểu cho phong cách u uất, não nề của Huy Cận trước cách mạng tháng Tám với nhiều nỗi niềm, trăn trở. Đặc người người đọc ấn tượng với nhan đề và lời đề từ độc đáo.

Một số nhan đề có tính chất gợi mở, một số nhan đề khằng định nội dung. Tuy nhiên, sáng tạo theo cách viết nào thì nó cũng bao hàm những dụng ý nghệ thuật riêng. Nhan đề của bài thơ có tên “Tràng giang” với vần “ang’ chủ đạo vừa có ý nghĩa gợi mở, vừa tạo nên sự u buồn dai dẳng và nặng nề, cứ triền miên trong tâm thức của tác giả. “Tràng giang” hay còn gọi là “trường giang” là một từ hán việt ý chỉ con sông dài. Nhưng tác giả lại lấy tên “Tràng giang” chứ không phải “Trường giang”. Bởi vốn dĩ “Trường giang” chỉ có ý nghĩa chỉ con sông dài đơn thuần như thế; nhưng ngược lại “Tràng giang” vừa nói con sông dài mênh mông, vừa nói lên tâm trạng, nỗi niềm của chính tác giả. Vần “ang” kéo dài ra như nỗi niềm của Huy Cận chưa bao giờ vơi khi đứng trước con sông Hồng rộng lớn mênh mông này. Và hình ảnh cụ thể của dòng “tràng giang” có lẽ là dòng sông Hồng. Sông Hồng là điểm nhấn khơi gợi cảm xúc của tác giả, đồng thời chồng chất những bế tắc không lối thoát cho những con người muốn đổi mới nhưng không tìm được con đường đi riêng cho chính mình. Như vậy nhan đề “Tràng giang” đã được làm sáng rõ, với ý nghĩa sâu xa như vậy.

Còn về lời đề từ, không phải bài thơ nào cũng có. Thực ra lời đề từ chính là tiêu điểm thâu tóm nội dung của tác phẩm, nhưng nội dung này chỉ là ở bề chìm, yêu cầu người đọc cần phải đi sâu khai thác mới có thể khám phá ra điều này. Lời đề từ của bài “tràng giang” là “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, một câu thơ thốt lên nhưng đầy ẩn ý nội dung và nghệ thuật. Dường như âm điệu chủ đạo của lời đề từ là sự nhẹ nhàng, buồn man mác, buồn len lỏi vào tâm hồn của con người. Với biện pháp đảo trật tự cú pháp “bâng khuâng” lên đầu câu, Huy Cận đã khiến người đọc vướng vào những tâm sự không thể giãi bài, cũng như khó có thể nói ra cùng ai.

Huy Cận muốn mở ra một không gian rộng lớn, mênh mông của dòng sông để đi sâu vào chiều dài, chiều sâu của lòng người. Hẳn đây là một dụng ý nghệ thuật tuyệt vời mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc khác nhau. Huy Cận đứng trước sông Hồng nhưng lại nhớ chính con sông này, có chăng là tâm sự đứng trước nhiều con đường, nhiều ngã rẽ nhưng lại không biết chọn con đường đi nào trọn vẹn nhất.

Với nhan đề và lời đề từ đầy ý nghĩa như thế nào, bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đã có sức ám ảnh lớn đối với người đọc.

Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận – Bài làm 2

Trong bài thơ Mai Sau” in trong tập thơ Riêng chung” nhà thơ Huy Cận đã tự bạch lòng mình:

Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm…

Nỗi nhớ thương không biết đã nguôi chưa?

Hay lòng chàng cứ tủi nắng, sầu mưa

Cùng đất nước mà lặng buồn sông núi?”.

Thơ Huy Cận trước cách mạng rất buồn, vì vậy ông thường tìm đến thiên nhiên để:

Vui chung vũ trụ nguôi sầu trần gian”.

Xuất hiện lần đầu tiên trên thi đàn văn chương Việt Nam năm 1940 với tập thơ Lửa thiêng”. Khi tập thơ xuất hiện ta bắt gặp một giọng thơ buồn ảo não của:

Một chiếc linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu”.

Linh hồn của tập thơ Lửa thiêng” chính là bài thơ Tràng Giang”. Như cái tên của nó, bài thơ là một dòng sông dài. Đó là một dòng sông tâm trạng để Huy Cận gửi gắm cái tôi” của một thời thơ mới. Đồng thời Tràng Giang” là bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước một cách thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại thi ca nói chung. Nhờ đó mà Xuân Diệu nhận định: Tràng Giang là bài thơ cuối cùng dọn lòng đến với giang sơn Tổ quốc”. Toàn bộ vẻ đẹp ấy kết tinh ngay ở nhan đề cũng như lời đề từ của bài thơ: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử

Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ

Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây”.

Trong Tiếng Việt hiện hành có hai từ nhằm miêu tả chiều dài đó là từ Tràng” và từ Trường”. Ở đay nhà thơ Huy Cận không viết là Tường Giang” mà lại viết là Tràng Giang”. Như vậy đủ thấy sự tinh tế của Huy Cận khi sử dụng Tiếng Việt. Bởi chữ Trường” chỉ đơn thuần là miêu tả chiều dài. Còn chữ Tràng” với âm vang” vốn là âm mở, nó không chỉ miêu tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông. Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều: sâu chót vót; rộng mênh mông; dài dằng dặc. Dòng sông càng mênh mông, càng vô biên, vô cùng bao nhiêu thì tâm hồn thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu. Như vậy, bài thơ với nhan đề Tràng Giang”đã phần nào bộc lộ được sở trường và phong cách thơ Huy Cận-một nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi bước đi của không gian.

Lời đề từ: Bìa thơ Tràng Giang có lời đề từ:

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

Trong một số thi phẩm nghệ thuật, ta bắt gặp một số lời đề từ. Lời đề từ không phải là một thứ đồ trang sức làm đẹp da cho thi phẩm nghệ thuật. Trái lại lời đề từ là một xuất phát điểm, là một dụng ý nghệ thuật. Nó cung cấp cho người yêu thơ chiếc chìa khóa nghệ thuật để khám phá nội dung của thi phẩm. Có lời đề từ là những câu văn xuôi mà tác giả mượn lời của người khác. Ta nhớ tới lời đề từ của Nam Cao trong tác phẩm Nước mắt” khi ông mượn lời của nhà văn Pháp Francois Coppée, ông viết:

Người ta chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ. Nước mắt là miếng kính biến hình vũ trụ”.

Có lời đề từ là những câu văn vần của chính tác giả mà ta có thể kể đến lời đề từ của Chế Lan Viên trong bài thơ Tiếng Hát Con Tàu”:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hóa những con tàu

Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”.

Lời đề từ còn cung cấp những thi liệu chính mà tác giả xây dựng trong bài thơ. Lời đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã gợi lên trước mắt người đọc hai thi liệu chính: đó là trời rộng và sông dài. Điều này được kết tinh trong hai câu thơ được xem là trung tâm của bài thơ Tràng Giang”:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”.

Hai khổ thơ còn lại của bài thơ này. Nếu khổ ba tác giả vẽ lên hình ảnh dòng sông dài, mênh mông, dợn ngợp thì khổ thơ thứ tư tác giả lại vẽ lên hình ảnh bầu trời cao rộng.

Hơn nữa, lời đề từ còn thể hiện rõ âm điệu, xúc cảm của bài thơ. Tràng Giang” là bài thơ có âm điệu buồn. Đó là nỗi sầu vạn kỉ thấm sâu vào trong mạch cảm xúc của bài thơ này mà Lê Di viết:

Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước Là Huy Cận khổ nào cũng lặng lẽ u sầu”.

Đồng thời lời đề từ còn thể hiện tình yêu quê hương đất nước thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại trong thi ca nói chung. Đó là những con người: Sống giữa giữa quê hương mà vẫn thấy mình thiếu quê hương” (nói như Nguyễn Tuân).

Còn Chế Lan Viên viết:

Nhân dân ở quanh ta mà sao chẳng thấy Tổ quốc ở quanh mình mà có cũng như không”.

Nên chăng ta mượn lại lời nhận định của Hoài Thanh, Hoài Chân trong Một thời đại trong thi ca” để kết thúc bài viết của mình:

Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng lại tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.

Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận – Bài làm 3

Bài thơ “Tràng giang” được gợi tứ từ cảnh sông Hồng vào một buổi chiều thu 1939. Theo lời tâm sự của Huy Cận: Hồi đó ông theo học ở trường canh nông Hà Nội, lại phải sống trong cảnh xa quê và sẵn mang trong lòng nỗi cô đơn. Cho nên vào một buổi chiều thu khi tác giả đứng ở bờ Nam bên Chèm nhìn cảnh sông Hồng, mênh mang sông nước, bốn bờ vắng lặng bao la nghĩ về kiếp người nổi trôi nhỏ bé, nhà thơ cảm thấy nỗi buồn của mình cũng như đang được trải ra như những lớp sóng và Huy Cận đã viết “Tràng giang”.

Lúc đầu bài thơ có tựa đề “Chiều thu trên sông” và được phác thảo dưới dạng thơ lục bát sau 17 lần trăn trở, lao động nghệ thuật miệt mài “Tràng giang mới có nhan đề và hình thức như hôm nay. Nó được in trong tập “Lửa thiêng” năm 1940 và trở thành thi phẩm xuất sắc của Thơ mới.

Không phải ngẫu nhiên Huy Cận đặt tên cho bài thơ là “Tràng giang” mà đây vốn là từ Hán Việt được biến âm từ hai chữ “Trường giang” (sông dài), Huy Cận không có ý miêu tả một con sông với chiều dài theo dòng thuỷ triều mà muốn gợi lên một dòng sông mênh mang, vô tận, một dòng song mang ý vị cổ kính như từ thời tiền sử chảy về – con sông của lịch sử – thi ca – văn hoá. Mặt khác, sự lựa chọn này còn tạo lên sự giao thao đồng điệu với tâm hồn cô đơn của thi sĩ trước cảnh trời nước mênh mang bởi sự lặp lại của âm “ang” gợi cảm giác dòng sông không chỉ dài mà còn mênh mông bát ngát. Như vậy, nhan đề của thi phẩm đã bộc lộ cảm hứng chủ đạo của tác giả.

Đề từ trong bài thơ này không phải là thứ trang sức nghệ thuật mà nó thường là điểm tựa cho cảm hứng cho ý tưởng của tác giả trong tác phẩm. Bài thơ có lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, câu đề từ như thêm lần nữa vén bức rèm bước qua hành lang mở thông vào cõi vô biên. Với câu đề từ tác giả như muốn mách bảo: con người bâng khuâng, nhung nhớ trước trời rộng, sông dài và cũng là trời rộng bâng khuâng nhớ sông dài. Cái độc đáo của câu thơ này chính là sự giao thoa giữa hai nghĩa ấy. Nói như lời của tác giả: “Bài thơ tưởng là cảnh nhưng thực sự là tả tâm hồn”, ở đó tình cảm giao hoà vì một từ dòng sông cụ thể, Huy Cận suy nghĩ về dòng sông “Tràng giang’ của cuộc đời, từ nỗi buồn riêng của mình nhà thơ suy nghĩ về thân phận bơ vơ của kiếp người.

Ý Nghĩa Nhan Đề Của Bài Thơ Khi Con Tu Hú / 2023

Khi con tu hú bài thơ của tác giả Tố Hữu sáng tác trong thời gian bị cầm tù, vì sao tác giả đặt nhan đề như vậy ? Ý nghĩa nhan đề Khi con tu hú? Tóm tắt nội dung của bài thơ chính xác ngay sau đây.

Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh Nguyễn Kim Thành, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông giác ngộ và đi theo cách mạng từ khá sớm và giữ nhiều chức vụ sau cách mạng tháng Tám. Trong quá trình tham gia cách mạng ông đã từng bị bắt và vượt ngục. Về sự nghiệp sáng tác, Tố Hữu tham gia và học làm thơ khi mới 7 tuổi. Những tập thơ đầu tiên được sáng tác vào những năm 1937 – 1938. Ông được coi là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Được giác ngộ và đi theo lí tưởng cách mạng từ sớm, nên thơ ca của ông luôn có sự hài hòa và thống nhất với cuộc đời cách mạng. Những vần thơ dung dị, chân thật và cảm động về lí tưởng, về Bác có thể coi là những vần thơ hay nhất. Một số tập thơ tiêu biểu phải kể đến như: Từ ấy (1937 – 1946); Việt Bắc (1946 – 1954); Gió lộng; Ra trận; Máu và hoa…

“Khi con tu hú” là một trong số những tác phẩm tiêu biểu trong tập thơ “Từ ấy” của tác giả. Tháng 4 -1939, trên bước đường hoạt động cách mạng, Tố Hữu bị địch bắt và giam cầm tại nhà lao tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trong thời gian bị giam cầm, Tố Hữu đã viết nên bài thơ này (tháng 7 – 1939), khi đó ông mới 19 tuổi. Đây được coi là tiếng lòng của chàng thanh niên 19 tuổi mang trong mình niềm say mê lí tưởng, tha thiết yêu đời. Dù bị giam cầm, tách biệt với thế giới bên ngoài vẫn hăng hái hoạt động,một lòng vì lý tưởng cao cả.

Bố cục bài thơ

Bài thơ “Khi con tu hú” được chia làm hai phần chính:

Phần 1: 6 câu đầu – Đây là bức tranh mùa hè sôi động

Các hình ảnh báo hiệu bức tranh mùa hè sôi động: hình ảnh “Lúa chiêm đang chín”, “Trái cây vườn râm”, “Tiếng ve, bắp rây”, “Nắng đào”, “Tiếng sáo diều”… Kết hợp với không gian cao rộng, khoáng đạt với đầy đủ các âm thanh, màu sắc nhộn nhịp.

Phần 2: 4 câu còn lại – Khắc họa tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng khi bị giam cầm

Tâm trạng ngột ngạt, uất ức đau khổ khiến nhà thơ có hành động như muốn “đập tan phòng” để đến với thế giới tự do ngoài kia.

Ý nghĩa nhan đề bài thơ

“Khi con tu hú” là một vế trong câu thơ đầu tiên. Đối với mỗi tuổi thơ chúng ta, không ai còn xa lạ với tiếng chim tu hú kêu mỗi dịp hè về. Chim tu hú kêu là lúc bầy chim ùa về trong nỗi nhớ của nhà thơ.

Nhan đề bài thơ “Khi con tu hú” chỉ gồm cụm từ của một loài chim nhưng nó gợi lại nhiều cảm xúc. Tiếng chim cất lên khiến cho nhân vật trữ tình thức tỉnh trong không gian chật hẹp kia. Chỉ với một âm thanh thôi lại như chính tiếng lòng của tác giả. Tiếng chim tu hú gọi bầy ráo rác cũng chính là tiếng gọi của cách mạng, của cuộc sống tự do ngoài kia. Chính tiếng chim đó càng khiến cho người chiến sỹ đang trong ngục tù bỗng cảm thấy khao khát sự tự do, khát vọng sống đối lập với hiện thực phũ phàng.

Tóm tắt nội dung bài Khi con tu hú

Nhà thơ Tố Hữu sáng tác khi đang ở trong tù giam chật hẹp, ngột ngạt, khi ông nghe thấy tiếng chim tu hú cũng có nghĩa là mùa hè đang đến gần. Chính điều đó khơi mạch cảm xúc và càng làm cho người cách mạng cảm thấy tù túng, chật hẹp, cô đơn và mong muốn thoát ra khỏi cảnh ngục tù để được tự do, khao khát bay nhảy.

Tiếng tu hú gọi nhớ mùa hè như thôi thúc tác giả hồi tưởng kỉ niệm và khát vọng cháy bỏng thoát khỏi cảnh giam cầm, thoát khỏi hiện thực tối tăm mà mình đang đối mặt.

Chính tiếng tu hú gọi hè là yếu tố rất quan trọng và đóng góp vào sự thành công của bài thơ.

Đặc sắc trong nghệ thuật

Không chỉ thành công với nội dung cách mạng, “Khi con tu hú” còn chạm đến cảm xúc của người đọc với những đặc sắc nghệ thuật của nó. Thể thơ lục bát quen thuộc tạo cảm giác ngân nga mà chân tình, dễ đi vào lòng người. Bài thơ cho ta thấy nghệ thuật đỉnh cao trong miêu tả và trí tưởng tượng giàu cảm xúc của nhà thơ. Theo đó cả một bầu trời thiên nhiên hiện ra trước mắt người đọc, bỏ qua hoàn cảnh chật hẹp nơi chốn lao tù. Cách kể chuyện sinh động, uyển chuyển thay đổi mọi góc nhìn của nhà thơ khiến cho người đọc như đắm chìm vào bức tranh sôi động ngoài kia.

Đặc biệt là cách xây dựng nghệ thuật âm thanh kết hợp với tạo hình không gian đa dạng. Có thể nói tiếng chim tu hú là nút điểm làm nên thành công cho toàn bài thơ. Ngoài ra còn kể đến các biện pháp tu từ được nhà thơ sử dụng một cách linh hoạt trong toàn bộ bài thơ.