Top 14 # Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Thần Kỳ / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Khái Niệm Truyện Cổ Tích Thần Kỳ / 2023

Cổ tích là thể loại truyện dân gian được hầu hết các dân tộc trên thế giới sáng tạo, lưu truyền rộng rãi và có giá trị cao nhất cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Cổ tích nói chung, nhất là cổ tích thần kỳ, không chỉ cuốn hút hàng triệu triệu người từ trẻ em đến người lớn, từ cổ chí kim, mà thế giới nghệ thuật phong phú, đa dạng của nó cũng được rất nhiều nhà folklore học thế giới quan tâm.

Trước sự phong phú, đa dạng của cổ tích, nhiều nhà folklore học Việt Nam thế kỷ trước cũng đã nêu ra nhiều cách phân chia truyện cổ tích thành các tiểu loại khác nhau, nhưng chưa có cách phân chia nào đạt được sự nhất trí cao. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, dù kết quả không giống nhau nhưng trong bảng phân loại của mỗi nhà khoa học đều có mặt tiểu loại cổ tích thần kỳ.

Cho đến nay, dường như các nhà cổ tích học thế giới đều chấp nhận cách phân loại của các nhà bác học Xô viết, theo đó truyện cổ tích được chia làm ba tiểu loại: cổ tích loài vật, cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự/ sinh hoạt/ thế tục. Hệ thống phân loại này cũng đã được các nhà folklore học Việt Nam tiếp thu từ thế kỷ trước. Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Đại học Tổng hợp Hà Nội, do GS,TS. Lê Chí Quế chủ biên, ba tiểu loại cổ tích này cũng đã được đề cập tới(1). Và từ đó đến nay cách phân loại này cũng đã xuất hiện trong hàng ngàn công trình nghiên cứu lớn nhỏ ở Việt Nam (nhất là tiểu loại cổ tích thần kỳ). Tuy nhiên, điều đáng nói là, tiếp thu cách phân tiểu loại truyện cổ tích từ các nhà khoa học Xô viết, nhưng dường như chưa có công trình nào của người Việt Nam nêu đầy đủ, chính xác các khái niệm cổ tích loài vật, cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự theo định nghĩa của họ. Hậu quả là không ít người nghiên cứu cổ tích Việt Nam, trong đó có nhiều nghiên cứu sinh, đã hiểu khái niệm truyện cổ tích thần kỳ một cách đơn giản, theo đó, tất cả những truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ đều là cổ tích thần kỳ.

Năm 1994, trong cuốn Truyện cổ tích thần kỳ người Việt – đặc điểm cấu tạo cốt truyện(2), Tiến sĩ Tăng Kim Ngân đã dựa trên mô hình Hình thái học của truyện cổ tích(3) của nhà bác học Xô viết nổi tiếng – chúng tôi Prop, để nghiên cứu đặc điểm hình thái của truyện cổ tích thần kỳ người Việt. Từ những khảo sát công phu, tỉ mỉ, Tăng Kim Ngân đã đi đến kết luận: về cơ bản, cấu trúc cốt truyện của truyện cổ tích thần kỳ người Việt cũng giống như cổ tích thần kỳ Nga, được tổ chức bằng các chức năng hành động của nhân vật. Tuy nhiên, ở cổ tích thần kỳ người Việt, tổng số các chức năng hành động của nhân vật là 32, trong khi ở cổ tích thần kỳ Nga chỉ có 31. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi Prop dường như đã được hầu hết các nhà folklore học thế giới thừa nhận, tiếp thu và xem đó là mô hình cấu trúc của cổ tích thần kỳ nhân loại. Bởi vậy, chức năng thứ 32 – sự biến hình, mà Tăng Kim Ngân “tìm ra” ở cổ tích thần kỳ người Việt, phải chăng là đặc điểm điển hình của cổ tích Việt Nam so với cổ tích Nga và thế giới?! Thực ra kết quả này xuất phát từ sự sai lầm của nhà nghiên cứu, bởi nếu vận dụng đúng hệ thống lý thuyết của V. Ia. Prop thì truyện cổ tích thần kỳ người Việt cũng chỉ có 31 chức năng hành động nhân vật mà thôi. Sự vênh thêm một chức năng mà Tăng Kim Ngân chỉ ra thực chất là do khi vận dụng lý thuyết hình thái học của V. Ia. Prop, chị đã không sử dụng đúng định nghĩa về cổ tích thần kỳ của ông cũng như các nhà bác học Xô viết. Tăng Kim Ngân đã tự nêu ra định nghĩa về cổ tích thần kỳ, theo đó tất cả các truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ đều được xem là cổ tích thần kỳ và một loạt truyện cổ tích có sự biến hình ở cuối truyện như Sự tích đá vọng phu, Sự tích trầu cau và vôi, Sự tích ba ông đầu rau,… đều được xem là cổ tích thần kỳ và đưa vào đối tượng nghiên cứu, từ đó chị tìm ra chức năng thứ 32 – sự biến hình. Dù chưa thấy ai ghi nhận, “tự hào” nhắc lại đặc điểm này của cổ tích thần kỳ người Việt, nhưng việc âm thầm mặc nhiên xem tất cả những cổ tích có yếu tố thần kỳ là cổ tích thần kỳ như Tăng Kim Ngân lại khá phổ biến trong nghiên cứu cổ tích Việt Nam.

Đặc biệt, gần đây tác giả Triều Nguyên đã mạnh dạn đề xuất cách hiểu này qua bài viết Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế tục(4) đăng trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 3 năm 2017. Theo Triều Nguyên: ” Đã là truyện cổ tích thần kỳ thì phải có yếu tố thần kỳ “. Điều này là mặc nhiên, nhưng liệu có phải tất cả truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ là cổ tích thần kỳ không (?) lại là chuyện khác.

Dù không nêu định nghĩa cụ thể thì một số nhà folklore học Việt Nam thế kỷ trước cũng đã đề cập đến vai trò yếu tố thần kỳ trong cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự để phân biệt hai tiểu loại này. Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, PGS. Hoàng Tiến Tựu đã viết: “… không thể căn cứ vào số lượng yếu tố thần kỳ để xác định đâu là cổ tích thần kỳ, đâu là cổ tích sinh hoạt. Điều quan trọng là vai trò và tác dụng của yếu tố thần kỳ, chứ không phải số lượng của chúng. Khi nào yếu tố thần kỳ có vai trò quan trọng, quyết định hoặc chi phối mạnh mẽ đối với sự phát triển và giải quyết xung đột, mâu thuẫn trong truyện, thì đó là cổ tích thần kỳ. Khi nào xung đột, mâu thuẫn trong truyện được phát sinh, phát triển và giải quyết chủ yếu bằng tác động của con người (tức bằng sự vận động của bản thân các nhân vật người), các yếu tố thần kỳ không có vai trò quyết định hoặc chỉ có tác động chi phối theo qui luật thông thường của đời sống thực tại trần gian, thì đó là cổ tích sinh hoạt“(5). Như vậy PGS. Hoàng Tiến Tựu cũng thừa nhận có một bộ phận cổ tích có yếu tố thần kỳ, nhưng ” các yếu tố thần kỳ không có vai trò quyết định…” nên đó là cổ tích sinh hoạt. Phê phán quan điểm này, Triều Nguyên cho rằng ý kiến của Hoàng Tiến Tựu là mơ hồ và ” Điều này làm nảy sinh việc xác định một số văn bản tác phẩm, là thuộc truyện cổ tích thần kỳ hay truyện cổ tích thế tục trở nên khó khăn“. Để củng cố cho kết luận đó, Triều Nguyên đã dẫn công trình Thi pháp truyện cổ tích thần kỳ người Việt của Nguyễn Xuân Đức, trường Đại học Sư phạm Vinh xuất bản 1996. Thật ra đây là tài liệu chuyên đề đào tạo cao học, lưu hành nội bộ ở Đại học Sư phạm Vinh. Năm 1996, trường Đại học Sư phạm Vinh chưa có nhà xuất bản; còn bản thân chúng tôi cũng chưa hề gửi xuất bản công trình ấy cho bất kỳ nhà xuất bản nào. Mặt khác, quan niệm của chúng tôi bấy giờ (1996) có thể cũng chưa chính xác, chưa cập nhật đầy đủ những tiến bộ của khoa học về vấn đề này.

Khảo sát kỹ toàn bộ những truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ chúng ta sẽ thấy có hai nhóm truyện đã sử dụng yếu tố thần kỳ với vai trò khác nhau, trong đó, ở nhóm thứ nhất xung đột xã hội được giải quyết nhờ cái thần kỳ, dẫn đến sự thay đổi của cốt truyện theo mong ước của tác giả dân gian; còn ở nhóm thứ hai, yếu tố thần kỳ thực chất là bộ phận ngoại cốt truyện, không tham gia giải quyết xung đột xã hội, không tham gia làm thay đổi cốt truyện và thường chỉ giữ một chức năng ở cuối truyện – sự biến hình. Chỉ muốn đơn giản hóa việc phân chia tiểu loại, Triều Nguyên đã không chú ý tới sự khác nhau về vai trò của yếu tố thần kỳ trong hai nhóm cổ tích trên và đã nhập chung cả hai nhóm vào tiểu loại cổ tích thần kỳ. Từ kết quả có được, Triều Nguyên cảm thấy nhẹ nhõm: ” Khi đã cho”truyện cổ tích thần kỳ thì phải có yếu tố thần kỳ” và truyện cổ tích thế tục không có yếu tố thần kỳ, cũng không có môi trường thần kỳ”, thì việc phân định giữa truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích thế tục không có gì khó khăn nữa“(6). Trong hoạt động nghiên cứu, việc xác định khái niệm công cụ là hết sức quan trọng nhằm tiếp cận bản chất đối tượng, nhưng phải dựa trên những căn cứ khoa học, chứ không thể vì mục tiêu đơn giản hóa vấn đề, giảm khó khăn cho người nghiên cứu. Có vẻ như nhận rõ điều này, Triều Nguyên quay sang chủ trương phân biệt hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự bằng phương pháp sáng tác. Tác giả viết: ” Bấy giờ, có thể đặt vấn đề ở bình diện phương pháp sáng tác, rằng một bên cứ vào siêu nhiên, tạo ra điều con người muốn có, một đằng dựa vào hiện thực, kể lại điều con người hiện có. Nói khác đi, truyện cổ tích thần kỳ sử dụng phương pháp lãng mạn, qua các yếu tố thần kỳ, truyện cổ tích thế tục sử dụng phương pháp hiện thực, với logic thực tại (biểu hiện qua hoàn cảnh xã hội, tính cách nhân vật)“(7). Thế nhưng, ở đây Triều Nguyên đã không nhận ra rằng bộ phận truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ ( sự biến hình) như: Sự tích chim hít cô, Sự tích chim năm trâu sáu cột, Sự tích chim đa đa hay là Truyện bố ghẻ ơi bát cát quả cà, v.v… đều dùng phương pháp sáng tác hiện thực. Loại truyện này không hề ” tạo ra điều con người muốn có“, số phận nhân vật chính ở đó được kể lại như ” hiện có” với kết thúc đau thương như cuộc đời thực của họ. Sự biến hình không phải là cuộc sống ước mơ của tác giả dân gian, mà là thủ pháp nghệ thuật nhằm tượng hình vào nhân gian dấu ấn về những nỗi niềm bi thương của người lao động. Trái lại, dù cách thức thể hiện khác nhau, dù mức độ có khác nhau nhưng tất cả cổ tích thần kỳ đều hướng tới ước mơ: người tốt được hưởng hạnh phúc, kẻ xấu bị trừng trị và điều đặc biệt là những ước mơ đó đều đạt được nhờ yếu tố thần kỳ và trong địa hạt cái thần kỳ. Các nhà khoa học gọi đó là lối kết thúc có hậu. Nói cách khác, sự biến hình như ở các truyện nêu trên không phải là kết thúc có hậu và những truyện cổ tích thuộc loại này không được sáng tác theo phương pháp lãng mạn.

Đến đây cũng phải nói thêm rằng: không phải mọi cổ tích thế sự đều không phản ánh ước mơ, không kết thúc có hậu. Một số truyện cổ tích nói về các nhân vật như chàng khỏe, chàng thiện xạ, anh tài, v.v… đều kết thúc có hậu, không nhờ yếu tố thần kỳ mà nhờ sức lực, trí tuệ,… con người. Những năng lực này không phải là yếu tố thần kỳ mà là hư cấu – phóng đại dựa trên cảm hứng lãng mạn – ước mơ.

Rõ ràng không thể dựa vào việc có hay không yếu tố thần kỳ, cũng như dựa vào phương pháp sáng tác hiện thực hay lãng mạn để phân biệt hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự như đề xuất của Triều Nguyên.

(1). Lê Chí Quế (Chủ biên), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ (1999), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

(2). Tăng Kim Ngân (1994), Truyện cổ tích thần kỳ người Việt – Đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Nxb KHXH.

(3). chúng tôi Prop (1928), Hình thái học của truyện cổ tích, Nxb Academia, Leningrad (Bản tiếng Nga).

(4). Triều Nguyên (2017), Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích.

(5). Triều Nguyên (2017), Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế tục, Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 3, tr. 37 – 46. Quan niệm này lần đầu được tác giả thể hiện trong phần Dẫn luận cuốn Tìm hiểu về truyện cổ tích thế tục, Nxb. Thuận Hóa, 9/2017 (tr.39).

(6). Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục Hà Nội, tr.62-63. Dẫn theo Triều Nguyên trong bài viết nêu trên.

(7). Triều Nguyên, tài liệu đã dẫn, tr.44.

(8). Triều Nguyên, tlđd, tr .44,45.

(9). A.M.Nôvicôva, Sáng tác thơ ca dân gian Nga, tập I (1983), Đỗ Hồng Chung và Chu Xuân Diên dịch, Nxb. ĐHTHCN, tr.259.

Phân Tích Ý Nghĩa Của Truyện Cổ Tích Cây Bút Thần / 2023

Phân tích ý nghĩa của truyện cổ tích Cây bút thần

Truyện cổ tích Việt Nam luôn mang trong mình nét đẹp của dân tộc, chứa đựng tâm tư tình cảm mà con người gửi gắm vào đó, trong số những câu chuyện rất hay được lưu truyền từ đời này sang đời khác nổi bật lên trong số đó là “Cây bút thần” câu chuyện với nhiều bài học đáng suy ngẫm mà nhân dân muốn gửi gắm cho thế hệ sau.

Câu chuyện kể về một cậu bé nghèo, thông minh, có sở thích học vẽ mang tên Mã Lương. Một hôm nằm mơ được ban tặng cây bút thần, với cây bút thần có thể biến những nét vẽ trở thành sự thật cậu bé đã dùng cây bút giúp đỡ những người dân nghèo khó xung quanh, tiếng vang của cây bút và cậu bé cũng từ đây vang xa. Tới tai nhà vua, nhà vua bắt cậu bé về cũng và bắt cậu bé vẽ theo ý mình. Vốn ghét sự áp bức bóc lột cậu bé không những không vẽ theo ý vua mà còn làm trái lại hoàn toàn, cậu vẽ ra những con vật xấu xí, rồi vẽ trận cuồng phong to lớn nhấn chìm thuyền rồng chôn vùi tên vua độc ác. Sau đó cậu bé đi khắp mọi nơi giúp đỡ những người nghèo khó.

Qua câu chuyện mà dân gian để lại đã gửi gắm đến người đọc rất nhiều ý nghĩa về tình người, đức tính con người và cách làm người. Trước tiên xét về hình ảnh cụ già râu tóc bạc phơ ban cho cậu bé nghèo, thông minh cây bút thần thể hiện sự ban thưởng xứng đáng đối với những con người thật thà, trung thực, có tài, có đam mê, đầu tư thời gian theo đuổi đam mê của mình, vượt lên sự khó khăn nghèo khó của cuộc sống mà lạc quan yêu đời, không chán nản, không vì sự giàng buộc của cuộc sống mà từ bỏ. Bên cạnh đó còn là khát vọng mà con người gửi vào trong đó, khát vọng công bằng đối với những người lao động nghèo khổ, những người nông dân chân lấm tay bùn, những con người không đề cao vật chất, dùng tình thương để đùm bọc lẫn nhau, hình ảnh cậu bé tuy tài giỏi, thật thà nhưng cậu cần có được sự giúp đỡ để thể hiện tài năng, đức tính của mình, hình ảnh cây bút như một sự giúp đỡ để cậu có thể thực hiện ước mơ, khát vọng đó.

Xuyên suốt câu chuyện người đọc chỉ thấy được những việc mà cậu bé giúp đỡ cho người khác, những hình ảnh được vẽ ra không có một chút nào để dành cho chính bản thân cậu cả, chỉ vẽ những vật dụng thông thường mà người lao động cần thiết, không vẽ những ham muốn mà địa chủ, quan vua yêu cầu, một con người không hề có gì trong tay, không gia đình, không tài sản nhưng lại không hề có một chút vụ lợi, luôn lo nghĩ cho những người xung quanh, quên đi bản thân mình, dù còn nhỏ những đã tự tập cho bản thân đức tính trung thực, thật thà, hành động đó thật khiến bất kì ai đọc qua tác phẩm đều thấy khâm phục. Những hành động của cậu bé tuy không đem lại giá trị vật chất nhưng những gì cậu bé làm khiến cậu mãn nguyện, yêu đời và cảm thấy cuộc sống có ích. Tại sao cậu không vẽ ra tiền bạc nhà cửa cho những người nông dân, tại sao không vẽ ra những viễn cảnh an nhàn không làm cũng có ăn, đơn giản bởi vì cậu hiểu giá trị của lao động, hiểu giá trị của những người nông dân, sản phẩm tạo ra từ chính bản tay lao động là đáng quý và đáng chân trọng hơn bao giờ hết. Cuối cùng truyện cổ tích là thể hiện khát vọng của con người, khát vọng về công lí, cái thiện luôn chiến thắng cái ác trong bất cứ hoàn cảnh nào, khát vọng về cuộc sống công bằng với tất cả mọi người trong cuộc sống, cái thiện luôn được giúp đỡ còn cái ác sẽ bị trừng phạt, bị lụi tàn.

Qua câu chuyện cổ tích này dân gian gửi gắm thông điệp tới tất cả những thế hệ sau, ai cũng có những ước mơ, niềm đam mê riêng của mình, “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” hãy biết cách tìm kiếm niềm vui trong cuộc sống, theo đuổi đam mê và vượt lên chính bản thân mình.

Từ khóa tìm kiếm:

ý nghĩa của chuyện cây bút thần

Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Cây Khế / 2023

Ý nghĩa truyện cổ tích cây khế là ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác. Chắc hẳn bất cứ ai cũng đã từng nghe qua câu chuyện này. Tuy nhiên, khi lớn lên, trưởng thành hơn, chúng ta có thể nhìn thấu nhiều bài học khác mà câu chuyện cổ tích này mang đến. Vậy đó là những bài học gì? Chúng ta cùng theo dõi bài viết bên dưới để vỡ ra những cách nhìn khác. Từ đó bạn có thể dùng để dạy lại thế hệ sau, giúp những người trẻ sống đúng mực hơn.

Tóm tắt truyện cây khế

Trước tiên chúng ta cùng tóm lược lại câu chuyện này cho một số bạn không nhớ rõ. Truyện kể về hai anh em nhà nông nọ có bố mẹ mất sớm. Người anh tham lam dành hết ruộng vườn và chỉ chừa lại cho người em một cây khế cùng căn nhà tranh.

Vợ chồng người em cần cù làm thuê, chăm sóc cây khế rất cẩn thận rồi cũng đến lúc cây khế ra hoa, kết những quả mọng nước trĩu cành. Một ngày nọ có chú chim bay đến ăn khế, người em lo lắng quả khế sẽ bị chim ăn hết. Lúc này, anh liền xua đuổi chú chim lạ.

Nhưng sau đó chim nói sẽ trả lại vàng, bảo người em mang theo túi ba gang để đựng. Người em làm đúng lời chim nói, chuẩn bị túi và được chim trở đi lấy vàng. Vậy là người em giàu lên từ đó.

Người anh thấy vậy sinh lòng tham, bèn đổi lại ruộng vườn và lấy cây khế về cho mình. Chim cũng đến ăn khế, cũng nói như trước với người anh khi bị người anh bắt gặp.

Truyện cây khế rất thân thuộc với những em thiếu nhi mọi thời đại

Ý nghĩa truyện cổ tích cây khế – những điều tâm đắc cần phải nhớ

Từ xưa, mỗi câu truyện cổ tích đều được kể với những ý nghĩa, bài học nhất định và câu chuyện này cũng không ngoại lệ. Qua truyện này, chúng ta có thể rút ra được nhiều ý nghĩa, từ đó lấy làm bài học tâm đắc trong cuộc sống của mình. Một vài ý nghĩa có thể kể đến như sau:

Thứ nhất: Siêng năng, chăm chỉ vun trồng thì sẽ có ngày hái được quả ngọt

Bằng chứng thực tiễn đó chính là cây khế của người em. Do người em để tâm chăm sóc nên cây mới ra quả ngọt. Nếu lúc trước người em chặt bỏ cây khế hoặc không quan tâm để nó còi cọc thì sẽ không có câu chuyện sau này.

Vì vậy, sống ở đời, muốn gặt hái điều tốt đẹp thì phải không ngừng cố gắng và để tâm vào mục tiêu mà mình đã đặt ra. Trời không phụ lòng người, cứ chăm chỉ thật tâm ắt sẽ gặt hái trái ngọt là những gì bạn đọc cần nhớ.

Vợ chồng người em chăm sóc cây khế tốt tươi và trĩu quả

Thứ hai: Trong nguy luôn có cơ

Khi chim ăn khế, vợ chồng người em đã rất lo lắng vì quả khế là một nguồn thu nhập của gia đình. Họ nghĩ rằng mình đã gặp phải hoàn cảnh nguy khốn giữa lúc khó khăn. Tuy nhiên, chim lại mở lời bảo ăn khế trả vàng, đấy chính là cơ hội trong hiểm nguy.

Bài học rút ra là khi chúng ta gặp chuyện khó khăn, thách thức thì phải bình tĩnh, xem xét thấu đáo, chờ đợi để nhìn thấy được cơ hội trong đó. Bạn đừng vội vàng buông xuôi cũng đừng nản chí bỏ cuộc vì biết đầu điều tốt đẹp đang chờ phía trước.

Thứ ba: Ở đời không ai cho không ai cái gì, muốn có được phải đánh đổi

Đây là một điều dễ thấy trong ý nghĩa truyện cổ tích cây khế. Người em muốn có được vàng thì phải đánh đổi hai thứ. Một là quả khế tặng lại cho chim thần, hai là người em phải ngồi lên lưng chim bay đến đảo vàng. Tất nhiên là điều kiện đi như vậy khá nguy hiểm cùng vất vả, phải thật bản lĩnh mới có thể thanh công.

Chúng ta thấy được rằng, có làm thì mới có ăn, muốn có được điều gì đó thì luôn phải đánh đổi thứ chúng ta có. Tuy nhiên, nhiều lúc thứ đó nằm trong tay chúng ta không có quá nhiều giá trị. Nhưng khi đưa nó qua tay người khác lại là vật có tác dụng lớn.

Người em ngồi trên lưng chim bay đến đảo vàng

Thứ tư: Ở hiền gặp lành

Ở hiền gặp lành là ý nghĩa truyện cổ tích cây khế cốt lõi nhất mà chúng ta được nghe giảng từ nhỏ. Người em không tranh giành, không chấp nhất với người anh, chấp nhận ở nhà tranh và nhận cây khế. Chính từ hành động này mới có câu chuyện người em có được vàng mà chim thần cho.

Ở xã hội hiện đại, tình huống này có lẽ không còn mấy ai đủ rộng lượng để nhẫn nhịn. Thế nhưng sống ở đời, chúng ta phải luôn tâm niệm rằng một điều nhịn chín điều lành, ở hiền thì gặp điều tốt. Đó chính là cách sống cơ bản nhất để xã hội được yên vui và hòa hảo.

Thứ năm: Tham thì thâm

Điều cuối cùng này hiển hiện rõ trên hành động của vợ chồng người anh. Kết cuộc của người anh là rơi xuống biển. Người vợ ở nhà thì mất chồng và phải sống cực khổ ở nhà tranh. Truyện không nhắc đến hành động sau đó của người em khi anh mất. Nhưng kết cục vợ chồng người anh như thế đã là cái giá lớn phải trả cho hành động tham lam của mình.

Người anh rơi xuống biển vì quá tham lam

Như vậy, các bạn nên nhớ làm việc gì cũng cần phải tiết chế, vừa đủ là tốt nhất. Khi tài lộc đến với mình, chỉ nên nhận đúng phần mà mình được nhận, không được cố đấm ăn xôi. Triết lý tham thì thâm đã được chứng minh luôn luôn đúng ở nhiều trường hợp từ xưa đến nay.

Tóm lại, chúng ta đã nhận thấy được thêm một số ý nghĩa truyện cổ tích cây khế qua bài viết này. Mong rằng, nhiều người có thể chiêm nghiệm được những bài học trên và có thái độ sống đúng đắn, tốt đẹp hơn. Chỉ cần cố gắng, chăm chỉ, sống tốt, không tham lam, biết đánh đổi đúng lúc thì cuộc sống của chúng ta sẽ ngày một tốt đẹp và hạnh phúc hơn.

Bạn đang đọc các câu chuyện cổ tích tại website chúng tôi – Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và thế giới với hàng ngàn câu chuyện cổ tích chọn lọc hay và ý nghĩa phù hợp cho mọi lứa tuổi.

Tổng hợp hàng ngàn truyện cổ tích Việt Nam và thế giới hay và ý nghĩa nhất. Truyện dân gian, truyện ngụ ngôn, sự tích và truyền thuyết, truyện cổ grimm, thần thoại hy lạp, truyện cổ andersen,…

Ý Nghĩa Của Truyện Cổ Tích Sọ Dừa / 2023

Truyện cổ tích hấp dẫn người đọc bởi truyện đã chiếu rọi ánh sáng lạc quan tin tưởng vào cuộc sống. Để khắc hoạ nhân vật và cấu trúc nên cốt truyện, dân gian rất quan tâm, chú trọng đến các hành động của nhân vật chứ không quan tâm mô tả ngoại cảnh, ngoại hình và tâm lý nhân vật. Hình tượng nhân vật trong truyện cổ tíc h rất đa dạng, trong đó có kiểu nhân vật xấu xí. Các nhân vật xấu xí với vẻ ngoài dị dạng như con cóc, con dê, con ếch… có sự đối lập với vẻ xấu xí bên ngoài là vẻ đẹp bên trong của các nhân vật với tính cách hiền lành, chân thật, cao thượng và có một tâm hồn trong sáng, tình yêu chân thành. Sọ Dừa là điển hình cho kiểu nhân vật này, phân tích nhân vật và tác phẩm ta có thể thấy truyện dạy ta rất nhiều bài học triết lí.

Tóm tắt truyện cổ tích Sọ Dừa

Có đôi vợ chồng già hiếm muộn con cái, phải đi ở cho nhà phú ông. Một hôm bà vợ vào rừng hái củi, uống nước trong cái sọ dừa, về nhà có mang, ít lâu sau sinh ra một đứa bé kì dị, không chân không tay, tròn như một quả dừa. Thấy đứa bé biết nói, bà giữ lại nuôi và đặt luôn tên là Sọ Dừa.

Thương mẹ vất vả, Sọ Dừa nhận chăn đàn bò nhà phú ông. Cậu chăn bò rất giỏi, con nào cũng béo mượt. Ba cô con gái nhà phú ông thay nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị kênh kiệu thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô út đối đãi với cậu tử tế.

Phát hiện ra vẻ đẹp bên trong cái vẻ kì dị của Sọ Dừa, cô út đem lòng thương yêu. Sọ Dừa nhờ mẹ đến nhà phú ông hỏi vợ. Phú ông thách cưới thật lo nhưng thấy Sọ Dừa mang đủ đồ thách cưới đến, đành phải gả cô út cho chàng. Ngày cưới, Sọ Dừa hiện nguyên hình là một chàng trai trẻ đẹp khiến hai cô chị vô cùng ghen tức.

Nhờ chăm chỉ đèn sách Sọ Dừa thi đỗ trạng nguyên và được nhà vua cử đi, sứ nước ngoài. Trước khi đi chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà để đề phòng tai hoạ.

Sọ Dừa đi vắng, hai người chị tìm cách hãm hại cô út, đẩy cô xuống biển hòng cướp chồng em. Nhờ có các đồ vật chồng đưa cho, cô út thoát chết, được chồng cứu trên đường đi sứ về. Hai vợ chồng đoàn tụ. Hai cô chị xấu hổ bỏ nhà đi biệt tích.

Ý nghĩa của truyện cổ tích Sọ Dừa

Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của con người

Sọ Dừa là hình tượng điển hình nhất cho kiểu nhân vật có ngoại hình xấu xí nhưng lại có vẻ đẹp bên trong ngời sáng, đẹp đẽ và nhân hậu. Đọc truyện cổ tích Sọ Dừa, có thể thấy mối quan hệ giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật. Về hình thức bề ngoài, Sọ Dừa dị dạng (tròn như sọ dừa) đối lập với phẩm chất bên trong (thông minh, tài giỏi). Sự đối lập giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của Sọ Dừa khẳng định giá trị bản chất và chân chính của con người

Người xưa có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, ý muốn nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn con người mới là cái quyết định, không nên có sự khinh miệt đối với ngoại hình xấu xí của một con người. Sự thật đã chứng minh, Sọ Dừa có khả năng làm tốt tất cả những việc mà những người bình thường có thế làm được, thậm chí tốt hơn. chàng chăn bò rất giỏi, thổi sáo rất hay, tự tin (chăn bò, giục mẹ hỏi con gái phú ông làm vợ và lo đủ sính lễ theo điều kiện phú ông đặt ra), thông minh (thi đỗ Trạng nguyên), có tài dự đoán tương lai chính xác (khi đi xứ, đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn vợ phải luôn giắt trong người). Điều đó chứng tỏ vẻ đẹp bên trong mới là vẻ đẹp vĩnh cửu và trường tồn.

Ca ngợi vẻ đẹp của Sọ Dừa, truyện đồng thời cũng phản ánh một hiện thực bất công trong cuộc sống, những con người bất hạnh có ngoại hình xấu xí phải chịu đựng sự chê bai dè bỉu của người đời. Họ không dám lên tiếng mà để cho những áng truyện viết thay họ

Kín đáo truyền tải thông điệp yêu thương những người khác mình.

Để yêu thương một người là một điều tương đối dễ dàng, nhưng để yêu thương ai đó khác mình lại là một điều thật khó. Con người ta vẫn thường tự tin mình có tấm lòng nhân hậu, vị tha cho đến khi đối mặt với những người khác biệt mình, họ tự cho mình có quyền được phán xét, được bình phẩm người khác, họ tự cho mình quyền được đặt bản thân lên trên quyền được sống và yêu thương của đồng loại. Sọ Dừa không chỉ đơn thuần là câu chuyện cổ tích viết cho trẻ con, nó là một lưỡi dao rất tinh tế xoáy sâu vào hiện thực của sự thật, vừa đủ để ta nhận ra rằng liệu có chăng ta cần phải học cách yêu thương lại từ đầu. Ta cần yêu phẩm chất và tài năng của họ, công nhận sự nỗ lực của họ. Các nhân vật này không phải là quái vật mà chỉ là sự khác biệt, họ xứng đáng được đối xử như những người bình thường khác. Ta nên hành xử với họ như cách cô Út đã làm với Sọ Dừa

Khi đánh giá con người: phải xem xét toàn diện, không chỉ dừng lại ở biểu hiện bề ngoài. Đó là ý nghĩa nhân bản, thể hiện đạo lý truyền thống của nhân dân. Truyện còn đề cao lòng nhân ái: “Thương người như thể thương thân”. Chính lòng nhân ái sẽ đem lại hạnh phúc cho con người.

Khát vọng được đổi đời

Xã hội phong kiến được biết tới là xã hội phân biệt giàu nghèo, tầng lớp vô cùng lớn. Không phải ngẫu nhiên mà có câu thơ:

Con vua thì lại làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

Một sự thật là những người ở tầng lớp dưới rất khó để tiếp cận với địa vị cao chỉ bằng tài năng của mình. Những con người bần cùng không có cơ hội để thực hiện ước mơ của mình, họ phải chịu miệt thị bởi ngoại hình xấu xí, sự nghèo khó cũng như đau khổ mà họ không đáng phải gánh, họ không biết phải gửi những lời than này đi đâu, chỉ biết viết vào những truyện cổ tích. Sọ Dừa có hình dạng xấu xí nhưng cuối cùng đã được trút bỏ lốt, cùng cô út hưởng hạnh phúc, còn hai cô chị phải bỏ nhà trốn đi. Qua kết cục này, người lao động xưa thể hiện những mơ ước về sự đổi đời: Sọ Dừa từ thân phận thấp kém, xuất thân trong một gia đình đi ở, dị hình xấu xí… trở thành người đẹp đẽ, có tình thương và thông minh tài giỏi, được hưởng hạnh phúc.

Đó là sự đổi ngôi giữa các tuyến nhân vật, kẻ lương thiện tài năng cần được quay trở về với đúng vị trí mình, đó đã là chân lý muôn thuở .

Như vậy, Sọ Dừa đã truyền tải rất nhiều ý nghĩa hay đến bạn đọc, ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, kín đáo lên án xã hội bất công, đồng thời thể hiện khát vọng chiến thắng cái ác của người dân

Thảo Nguyên