Xem Nhiều 2/2023 #️ Trăng Trong Thơ Của Hai Thi Nhân Kiệt Xuất Nhất Thời Đường # Top 5 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Trăng Trong Thơ Của Hai Thi Nhân Kiệt Xuất Nhất Thời Đường # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Trăng Trong Thơ Của Hai Thi Nhân Kiệt Xuất Nhất Thời Đường mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Từ lúc còn nhỏ, ông đã đam mê đọc sách. Mới 10 tuổi, ông đã thông thuộc rất nhiều kinh thi, kinh thư Nho học.

Ở tuổi đôi mươi, ông đã đi ngao du sơn thủy, đến năm 742 được Hoàng đế Đường Huyền Tông (1) đưa vào cung dạy học và sáng tác thơ ca.

Một ngày kia, nhà vua cùng ái phi Dương Quý Phi (2) tản bộ trong vườn hoa. Cao hứng trước vẻ đẹp của người và hoa, vua Đường Huyền Tông bèn sai người gọi Lý Bạch đến để làm thơ.

Lý Bạch đến, say khướt đến mức đứng không vững trước mặt hoàng đế. Người thông tri được lệnh xối nước vào mặt ông, khiến Lý Bạch tỉnh ra đôi chút. Ông cầm bút và chẳng mấy khó khăn viết ra một bài thơ thật hoàn mỹ thanh tao khiến vua Đường Huyền Tông rất hài lòng và ấn tượng trước tài năng của Lý Bạch. Từ đó về sau, cứ vào dịp hội hè mở tiệc, nhà vua lại mời gọi Lý Bạch đến để ngâm thơ.

Một lần khi Lý Bạch say rượu và giày của ông bị bẩn, vua Đường Huyền Tông đã ra lệnh cho Cao thái giám lau giày của ông. Cao thái giám lúc đó là người có ảnh hưởng rất lớn trong cung đình và ông ta chỉ hầu hạ cho hoàng đế nên cảm thấy bị xúc phạm nặng nề vì phải làm công việc tầm thường như việc lau giày cho Lý Bạch. Tuy nhiên, ông buộc phải làm theo lệnh hoàng đế.

Người thái giám đã trả thù bằng việc cố tình tạo ra bất hòa giữa Lý Bạch và Dương Quý Phi. Ông ta đã tâu với Quý Phi về một trong những bài thơ của Lý Bạch là có ẩn ý chê bai Dương Quý Phi. Tin vào lời thái giám, Dương Quý Phi đã nổi giận với Lý Bạch. Thái giám và Quý Phi đã thuyết phục hoàng đế để Lý Bạch trong cung điện là không thích hợp. Cuối cùng Lý Bạch đã được lệnh rời khỏi hoàng cung vào năm 743 SCN.

Sau khi rời khỏi hoàng cung, Lý Bạch đi ngao du và tiếp tục sáng tác thơ. Người ta nói ông đã trở thành một đạo sĩ. Vào một ngày mùa thu một năm sau, ông gặp một thi nhân của thời đại, Đỗ Phủ. Ngưỡng mộ tài năng văn chương của nhau, hai người nhanh chóng trở thành bạn tốt.

Khi làm thơ, Lý Bạch bày tỏ sự thán phục trước tạo hóa thiên nhiên, lòng yêu nước, và nỗi buồn trong trái tim mình. Hầu hết các bài thơ của ông miêu tả con người như bị lạc lõng, cô đơn và khao khát kết nối với ánh trăng. Hình ảnh ánh trăng trong thơ Lý Bạch xuất hiện dày đặc, đến nỗi người đời sau cứ mỗi khi nhắc đến Lý thì lại nhớ đến trăng, mỗi khi nhìn thấy trăng thì nhớ ra Lý. Viết về trăng hay nhất chính là Lý Bạch vậy.

Bài 1: Nguyệt hạ độc chước

Hoa gian nhất hồ tửu,

Độc chước vô tương thân.

Cử bôi yêu minh nguyệt,

Đối ảnh thành tam nhân.

Nguyệt ký bất giải ẩm,

Ảnh đồ tùy ngã thân.

Tạm bạn nguyệt tương ảnh,

Hành lạc tu cập xuân.

Ngã ca nguyệt bồi hồi,

Ngã vũ ảnh linh loạn.

Tỉnh thì đồng giao hoan,

Tuý hậu các phân tán.

Vĩnh kết vô tình du,

Tương kỳ mạc Vân Hán.

Dịch nghĩa:

Một mình uống rượu dưới trăng

Trong đám hoa với một bình rượu

Uống một mình không có ai làm bạn

Nâng ly mời với trăng sáng

Cùng với bóng nữa là thành ba người

Trăng đã không biết uống rượu

Bóng chỉ biết đi theo mình

Tạm làm bạn với trăng và bóng

Hưởng niềm vui cho kịp với ngày xuân

Ta hát trăng có vẻ bồi hồi không muốn đi

Ta múa bóng có vẻ quay cuồng mê loạn

Lúc tỉnh cùng nhau vui đùa

Sau khi say thì phân tán mỗi một nơi

Vĩnh viễn kết chặt mối giao du vô tình này

Cùng nhau ước hẹn lên trên Thiên hà gặp lại

Bình thơ:

Lý Bạch viết ra cảnh tượng kỳ lạ độc đáo, lấy bóng trăng làm bạn, uống say mà ca hát. Nhà thơ lấy trăng sáng, thậm chí lấy cả bóng ảnh của mình mà làm bạn trò chuyện, cùng nhau uống rượu, hát ca, nhảy múa. Mặc dù trăng không biết uống, bóng chỉ theo thân, vẫn chẳng ngại lấy trăng trên cao và bóng hình làm tri kỷ.

Bài 2: Tĩnh Dạ Tứ

Sàng tiền minh nguyệt quang,

Nghi thị địa thượng sương.

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.

Dịch nghĩa:

Nỗi nhớ trong đêm vắng

Đầu tường trăng sáng soi,

Ngỡ là sương trên mặt đất.

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Cúi đầu nhớ cố hương.

Bình thơ:

“Tĩnh dạ tư” là một bài thơ nhuốm đầy u hoài. Thuở nhỏ, Lý Bạch thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng. Từ năm 25 tuổi, ông lên đường ngao du sơn thủy, rời xa quê nhà cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay chưa từng một lần trở lại. Vì vậy, cứ mỗi lần ngắm mảnh trăng trong treo trên bầu trời, Lý Bạch lại nhớ quê hương da diết.

“Tĩnh dạ tư” ngập tràn một màu hoài niệm, ngập tràn ánh trăng. Trăng soi tỏ khắp cả bài thơ, trên trời, dưới đất đến đầu giường, trăng soi cả vào lòng thi nhân, chiếu lên nỗi niềm tha hương của người khách tang hải nhớ quê mà chẳng thể trở về.

Những bài thơ về trăng của Đỗ Phủ

Cùng với Lý Bạch, Đỗ Phủ (712-770 SCN) là một nhà thơ Trung Quốc kiệt xuất của triều đại nhà Đường. Ông được nhiều nhà phê bình văn học tôn vinh là nhà thơ Trung Quốc vĩ đại nhất mọi thời đại.

Sinh ra trong một gia đình học thuật, Đỗ Phủ đã thể hiện tài năng thơ phú của mình từ khi còn rất trẻ. Cùng với việc nằm lòng nhiều bài thơ nổi tiếng của thời đại, năm 7 tuổi ông đã biết sáng tác thơ. Ông cũng thọ nhận một nền giáo dục Nho giáo truyền thống.

Sau khi thất bại trong kỳ thi triều đình năm 735 SCN. Đỗ Phủ bắt đầu đi ngao du khắp đất nước và trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Trong cuộc hành trình của mình, ông gặp gỡ những nhà thơ của thời kỳ này, trong đó có Lý Bạch vào năm 744 SCN.

Sau một thời gian ngắn quan tâm đến Đạo giáo qua những chuyến đi với Lý Bạch, Đỗ Phủ trở về thủ đô Trường An, và một lần nữa tập trung vào Khổng giáo.

Trong nhiều năm, dù ông không đảm nhiệm vị trí chính thức nào nhưng Đỗ Phủ được các vị quan lớn trong triều rất coi trọng. Dù vậy ông đã thất bại trong lần thứ hai tham dự kỳ thi của triều đình.

Đỗ Phủ lập gia đình vào năm 752 và có năm người con, ba con trai và hai con gái. Ông mắc bệnh phổi năm 754 và phải chống chọi với bệnh tật trong suốt phần đời còn lại của mình.

Từ năm 755 đến năm 763, xảy ra sự biến An Lộc Sơn khiến đất nước Trung Quốc rơi vào cảnh hỗn loạn. Đỗ Phủ và gia đình ông sống trong cảnh nghèo đói, phải dựa vào sự giúp đỡ từ bạn bè.

Từ năm 765-766, ông và gia đình thường phải di chuyển, nhưng họ không đi xa được bởi bệnh tật của Đỗ Phủ. Cuối cùng, Họ dừng lại ở Quỳ Châu (hiện nay là Bạch Đế, Trùng Khánh) trong hai năm cho tới tận cuối mùa đông năm 766.

Bác Mậu Lâm, một tổng trấn của địa phương nơi Đỗ Phủ cư ngụ, đã giúp đỡ ông về tài chính và trao cho Đỗ Phủ một chức quan thư ký không chính thức. Trong thời gian này, Đỗ Phủ đã viết khoảng 400 bài thơ, đây là thời kỳ sáng tác đỉnh cao cuối cùng của ông. Hai năm sau, Bác Mậu Lâm qua đời và Đỗ Phủ và gia đình của ông lại phải di chuyển một lần nữa.

Năm 770 , Đỗ Phủ qua đời ở tuổi 59 ở vùng đông nam Trung Quốc, trên một chiếc thuyền rách nát. Đỗ Phủ được biết đến như một người hiếu thảo, tình cảm, rộng lượng, tín nghĩa, trung thành và yêu nước.

Bài 1: Nguyệt dạ

Kim dạ Phu Châu nguyệt,

Khuê trung chỉ độc khan.

Dao liên tiểu nhi nữ,

Vị giải ức Trường An.

Hương vụ vân hoàn thấp,

Thanh huy ngọc tý hàn.

Hà thì ỷ hư hoảng,

Song chiếu lệ ngân can?

Dịch nghĩa:

Đêm trăng

Vầng trăng ở Phu Châu đêm nay

Trong phòng khuê chỉ một người đứng nhìn

Ở xa thương cho con gái bé bỏng

Chưa hiểu nỗi nhớ Trường An

Sương thơm làm ướt mái tóc mai

Ánh trăng trong sáng làm giá lạnh cánh tay ngọc

Bao giờ được tựa bên màn mỏng

Để trăng chiếu cả đôi ta cho ngấn lệ ráo khô?

Bình thơ:

Đỗ Phủ làm bài này trong mùa thu năm 756, tại Trường An đang bị quân An Lộc Sơn chiếm giữ, vợ con lúc đó đang ngụ tại Phu Châu

Bài thơ nhắc đến trăng trong chỉ câu đầu, mà ánh trăng bàng bạc cả nguyên bàị. Bài thơ thẫm đẫm tình cảm của Đỗ Phủ dành cho người vợ và con gái đang ở xa và mong ước một ngày cả gia đình được đoàn tụ.

Bài 2: Nguyệt dạ ức xá đệ

Thú cổ đoạn nhân hành,

Thu biên nhất nhạn thanh.

Lộ tòng kim dạ bạch,

Nguyệt thị cố hương minh.

Hữu đệ giai phân tán,

Vô gia vấn tử sinh.

Ký thư trường bất đạt,

Huống nãi vị hưu binh.

Dịch nghĩa:

Đêm trăng nhớ người em

Tiếng trống nơi đồn thú vang lên, không còn ai dám qua lại,

Một tiếng nhạn kêu ở chốn biên thuỳ mùa thu.

Từ đêm nay trở đi, sương móc rơi trắng xoá,

Trăng vẫn sáng tại quê nhà.

Có các em trai, nhưng đều ly tán,

Không còn nhà để mà hỏi thăm chúng còn sống hay đã chết.

Gửi thư về, nhưng thư thường không tới nơi,

Huống chi chiến tranh vẫn còn chưa thôi.

Bình thơ:

Đỗ Phủ viết bài thơ này năm 759, lúc đó loạn An Sử đang bước vào giai đoạn khốc liệt, cuộc sống của nhân dân Trung Quốc vô cùng lầm than, cảnh người ly tán xảy ra khắp nơi. Bài thơ thể hiện đậm chất hiện thực khốc liệt lúc bấy giờ: thể hiện sự căng thẳng, nỗi sợ hãi bao trùm trong chiến tranh hỗn loạn, sự ly tán, mất liên lạc giữa những người thân trong gia đình.

Nam Minh

(1). Hoàng đế Đường Huyền Tông (685-762 sau Công nguyên), tức Đường Minh Hoàng là vị vua thứ bảy của triều đại nhà Đường. Tên của ông là Lý Long Cơ và ông là vị Hoàng Đế tại vị lâu nhất trong lịch sử nhà Đường trong vòng 43 năm (712-756) . Với đường lối cai trị sắc bén, ông được cho là đã mang lại đỉnh cao cho nền văn hóa và sức mạnh của Trung Hoa cổ xưa.

(2). Dương Quý Phi còn gọi là Dương Ngọc Hoàn (719-756 sau Công nguyên). Trong suốt những năm cuối đời của Đường Minh Hoàng, Dương Quý Phi trở thành người được Hoàng Đế sủng ái nhất. Bà còn được biết đến như một trong Tứ Đại Mỹ Nhân của Trung Quốc cổ đại (Từ “Quý phi” được dùng để chỉ người có vị trí cao nhất trong các cung phi của Vua chỉ sau Hoàng hậu).

Top Những Bài Thơ Về Trăng Hay Nhất Của Các Thi Sĩ

Trăng từ lâu đã đi vào thơ ca trở thành đề tài của rất nhiều thi sĩ. Ánh trăng sáng trên bầu trời không của riêng ai nhưng lại là nguồn cảm hứng cho các bài thơ về trăng ra đời. Mỗi bài đều có cách tả ánh trăng khác nhau, mang những ý nghĩa khác nhau. Không bao giờ có sự trùng lặp về trăng trong các bài thơ. Chính vì vậy, bài nào cũng hay và hấp dẫn.

Hàn Mạc Tử được biết đến với phong các thơ rất buồn, sầu cảm. Có lẽ nó xuất phát từ việc ông là người hẩm hiu, mắc bệnh phong nên bị người đời hắt hủi, những năm cuối đời phải sống ở trại thương Quy Nhơn và chết ở đó. Trong những ngày cô đơn thì thì ngoài làm thơ thì ông chỉ có thể làm bạn cùng với ánh trăng. Các tác phẩm của ông rất tiêu biểu như Đà Lạt trăng mờ, Trăng vàng trăng ngọc, uống trăng, đánh lừa, huyền ảo, ưng trăng…

“Trăng, Trăng, Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng! Ai mua trăng tôi bán trăng cho Không bán đoàn viên, ước hẹn hò… Bao giờ đậu trạng vinh quy đã Anh lại đây tôi thối chữ thơ.

Không, không không! Tôi chẳng bán hòn Trăng! Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng Tôi nói thiệt, là anh dại quá: Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.

Trăng, Trăng, Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng! Trăng sáng trắng sáng khắp mọi nơi, Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi. Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi, Trăng mới là trăng của Rạng Ngời.

Trăng, Trăng, Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!”

Mà lòng ta say Vì lòng nao nức muốn Ghì lấy đám mây bay Té ra ta vốn làm thi sĩ Khát khao trăng gió mà không hay Ta đi bắt nắng ngừng, nắng reo, nắng cháy, Trên sóng cành, sóng áo cô gì má đỏ hây hây Ta rình nghe niềm ý bâng khuâng trong gió lảng Với là hơi thở nồng nàn của tuổi thơ ngây Gió nâng khúc hát lên cao vút Vần thơ uốn éo lách rừng mây Ta hiểu ta rồi, trong một phút Lời tình chơi vơi giữa sương bay Tiếng vàng rơi xuống giếng Trăng vàng ôm bờ ao Gió vàng đang xao xuyến Áo vàng bởi chị chưa chồng đã mặc đi đêm Theo tôi đến suối xa miền Cõi thơ, cõi mộng, cõi niềm yêu đương Mây trôi lơ lửng trên dòng nước Đôi tay vốc uống quên lạnh lùng Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ Đầy mình lốm đốm những hào quang.

Thơ của bác đầy trăng là một nhận định không hề sai. Trong suốt cuộc đời của mình Bác đã dành sự ưu ái cho trăng bằng những từ ngữ đẹp nhất. Qua ánh trăng nói lên nỗi niềm của vị lãnh tụ luôn đau đáu việc nước việc nhà

Đối với người chiến sĩ có những đêm nằm rừng canh gác có một mình thường rất cô đơn. Không có ai bầu bạn nói chuyện và họ thường lấy trăng làm bạn của mình để vơi đi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương.

“Đệ Nhất Thi Sĩ Miền Nam” Vũ Hoàng Chương – Lạc Loài Trong Cõi Nhân Sinh

Khi tiếng kêu đớn đau của thi sĩ Hàn Mặc Tử ở phương Nam chợt vụt tắt, thì vòm trời thi ca đất Việt dường như chỉ còn một Vũ Hoàng Chương đang quằn quại với những vết thương xẻ nát tâm hồn. Thì kỳ lạ thay, từ chính vết thương đang rỉ máᴜ ấy lại vẽ ra một lối đi riêng, một con đường cho thi ca ngay từ buổi đầu đến với thơ mới.

Nếu ai đó đã nói, thơ là tiếng nói hồn nhiên trong trẻo của tâm hồn, là tuổi thơ của loài người còn sót lại… thì quả thật với Vũ Hoàng Chương, nó lại là tiếng bi ai được cất lên từ nỗi đau rách nát của linh hồn. Chính vì vậy, thơ ông đã chạm đến tận cùng nỗi đau và sự cảm thông của con người. Để rồi thơ văn Vũ Hoàng Chương không chỉ đóng đinh vào lòng người, mà còn dán chặt tên tuổi ông vào nền văn học nước nhà. Ông viết nhiều thể loại, từ thơ, văn đến cả kịch thơ… Hơn hai chục tác phẩm tuy chưa hẳn đã là nhiều, nhưng chính tư tưởng, hình tượng nghệ thuật mới làm nên chân dung và sự nghiệp sáng tác đồ sộ Vũ Hoàng Chương.

Vũ Hoàng Chương sinh năm 1915 tại Nam Định, trong một gia đình nho giáo. Cha ông là quan tri huyện, mẹ ông cũng hay chữ, yêu văn học và âm nhạc, nên ông được học và tiếp cận với Hán văn từ nhỏ. Sau đó, Vũ Hoàng Chương học tiếp tiếng Pháp và vào học trung học, đỗ tú tài Pháp tại Hà Nội năm 1938. Đang học luật ông bỏ đi làm ngành hỏa xa và in tập Thơ Say đầu tay vào năm 1940. Năm 1941 ông theo học khoa toán, Đại học khoa học Hà Nội. Rồi một lần nữa ông lại bỏ xuống Hải Phòng dạy học và cùng với Chu Ngọc, Nguyễn Bính lập ra Ban Kịch Hà Nội.

Năm 1943 ông in tập thơ Mây, rồi theo kháng chiến. Một thời gian sau ông bỏ kháng chiến về thành, rồi di cư vào Nam. Từ đây ông theo nghề dạy học và viết văn làm thơ. Thời gian này, ông viết nhiều, được dịch và in ra nhiều thứ tiếng. Do vậy, tên tuổi ông đến gần hơn với bạn đọc nước ngoài cũng như văn bút quốc tế.

Sau năm 1975 ông bị bắt vào tù và mất ngay sau đó vào tháng 9 năm 1976.

Có thể nói, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lớn của dân tộc. Nếu nhìn lại văn học sử, ta có thể thấy: Sau sự cổ vũ của các cụ Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh… Vũ Hoàng Chương góp phần không nhỏ, cùng với những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nguyễn Nhược Pháp, Xuân Diệu, Huy Cận… mở đường tiên phong cho phong trào thơ mới từ những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi. Thơ ông sang trọng, giàu nhạc tính, tuy cách tân mà vẫn mang mang hoài cổ.

Tập Mây (in năm 1943) và Lửa Từ Bi (năm 1963) có thể chưa phải là những thi tập hay nhất của Vũ Hoàng Chương, nhưng với tôi, nó là hai tập thơ tiêu biểu nhất cho từng giai đoạn, tư tưởng cũng như thi pháp sáng tác của ông.

Vũ Hoàng Chương xuất hiện vào thời kỳ cuối của phong trào thơ mới bằng tập Thơ Say. Nhưng phải đến thi tập Mây (năm 1943) tên tuổi ông mới được khẳng định trên thi đàn. Và tập thơ này đã làm rung động giới thưởng ngoạn, bởi giọng điệu thơ khác hẳn với những thi sĩ cùng thời.

Thật vậy, khi đọc và và nghiên cứu sâu về thơ Vũ Hoàng Chương, tôi mới chợt nhận ra cái tôi, cái riêng biệt trong thiên tình sử của ông, sao mà nó khác với những tuyên ngôn tình yêu, dành cho hội trường, đọc nơi đông người như trong thơ tình Xuân Diệu đến vậy. Với khoảng cách, sự trái ngược này, chỉ có cảm thụ của cá nhân người đọc mới có thể tự so sánh rạch ròi. Nếu được phép gắn ông hoàng, bà chúa cho thơ (tình) như người ta vẫn thường làm, với tôi chắc chắn vương miện đó phải được trao cho Vũ Hoàng Chương.

Sinh ra, lớn lên trong gia đình quyền quí, nhưng cuộc sống, tình yêu Vũ Hoàng Chương luôn tuyệt vọng, chán chường. Để tự thoát ra khỏi cuộc sống bơ vơ nơi địa ngục:

“Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh”

Ông đã treo hồn mình lơ lửng giữa vòm trời thi ca. Và Vũ Hoàng Chương không chỉ lạc loài giữa cõi nhân sinh hiện hữu này, mà chính linh hồn ông cũng lạc khỏi thân xác mình. Do vậy, đọc Vũ Hoàng Chương, ta có cảm giác thơ ông được chiết ra từ khói thuốc, men rươu trong những cơn chao đảo, thất tình điên loạn.

Vâng! Chỉ có những cơn say ấy mới có thể nhập linh hồn vào với thể x̠ác, để thi nhân đủ can đảm đi đến tận cùng sự thật đắng cay. Những tiếng kêu bi thảm đó, làm ta ngỡ, trái tim người thi sĩ tựa hồ vỡ vụn. Và biết bao đêm trường như vậy, nấm mồ sầu thảm đó vẫn được đong bằng nước mắt của thi nhân:

“Là thế là thôi là thế đó Mười năm thôi thế mộng tan tành Mười năm trăng cũ ai nguyện ước Tố của Hoàng ơi Tố của Anh

Men khói đêm nay sầu dựng mộ Bia đề tháng sáu ghi mười hai Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc Tố của Hoàng nay Tố của Ai”

Có lẽ, không có nỗi đau nào bằng sự đổ vỡ, phụ bạc của tình yêu, nhất là trái tim dễ vỡ của thi nhân. Và Vũ Hoàng Chương cũng không nằm ngoài cái qui luật đó.

“Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp Tình mười năm còn lại mấy tờ thư!”.

Đứng trước sự bế tắc của xã hội và tình yêu nhà thơ luôn cảm thấy lạc loài, bơ vơ với cuộc sống đang hiện hữu, nên luôn luôn muốn từ bỏ, thoát ly nó, tìm đến cõi mộng ảo địa đàng. Thật vậy! Vũ Hoàng Chương đang trốn chạy, tìm nơi ẩn nấp. Và cứ tưởng rằng, trốn vào men say và khói thuốc, thì sẽ mất đi nỗi đau, sầu nhớ đó, nhưng rượu đã cạn, thuốc đã tàn càng buốt lạnh thêm tâm hồn thi nhân:

“Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối Mưa, mưa hoài rượu chẳng ấm lòng đau Gấm thế nào từ buổi lạnh lùng nhau Vàng son có thay màu đôi mắt biếc?

Tình đã rời đi riêng mình tưởng tiếc Thôi rồi đây chiều xuống giấc mơ xưa Lá, lá rơi nằm bệnh mấy tuần mưa Say chẳng ngắn những đêm dằng dặc nhớ…”.

Có thể nói, Mây là tập thơ hay và tiêu biểu về sự bế tắc tình yêu, cuộc sống của Vũ Hoàng Chương. Trong đó, có một số bài, một số câu thơ mới táo bạo đã đạt đến độ toàn bích. Có lẽ, ở thời điểm đó, ngoài Vũ Hoàng Chương không ai dám viết và viết hay được như vậy. Có một điều đặc biệt, đa phần những bài thơ hay của ông đều thuộc thể thất ngôn. Ta hãy đọc lại đoạn trích trong bài Đời Vắng Em Rồi, để thấy rõ sự chia ly và tình yêu đắng chát như vậy, nhưng lời thơ rất đẹp, nhẹ nhàng và trau chuốt:

“…Em ơi lửa tắt bình khô rượu Đời vắng em rồi say với ai”

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không Mà đây lòng trắng một mùa đông Tương tư nối đuốc thâu canh đợi Thoảng gió trà mi động mấy bông.”

Trong cuộc sống đầy thị phi này, có rất nhiều người có những mối tình đầu đổ vỡ, đắng cay. Nhưng thất vọng sầu thảm, gục mặt vào bồng bềnh men khói, tìm đam mê, khoái cảm, quên đi nỗi buồn dằng dặc như Vũ Hoàng Chương, thì quả thật trong văn học sử đất Việt, (ngoài Hàn Mặc Tử cùng thời) dường như chỉ có nhà thơ, nhà biên kịch Lưu Quang Vũ (có thể) coi là hậu nhân của ông mà thôi.

Vũ Hoàng Chương là người giỏi Hán Văn và chịu nhiều ảnh hưởng Đường thi. Mỗi lần đọc ông, ta lại thấy hồn cốt của Bạch Cư Dị, Lý Bạch… chợt hiện về. Những Đà Giang, Nghe Hát… đã nối dài thêm mạch chảy Tỳ Bà Hành, một thi phẩm gắn liền với tên tuổi Bạch Cư Dị. Và khi viết, ông sử dụng nhiều từ Hán Việt cũng như hình tượng điển tích, làm cho lời thơ sang trọng ẩn chứa thiền triết hoài cổ. Những nét phương đông cổ kính ấy cho ta cảm giác gần gũi lạ thường.

“Từ thuở chàng say ôm vũ trụ Thu trong bầu rượu một đêm trăng. Nhảy xuống muôn trùng sông quạnh quẽ Đem theo chân hứng gửi cô Hằng.

Ngựa ơi hãy nghỉ chân cuồng khấu Cho thoả lòng ta nỗi khát khao Ta chẳng mò trăng như Lý Bạch Nhưng tìm thi hứng mất đêm nao…

Tình hoa thuở trước xô về đọng Ơi phiến gương vàng một tối nay. Ta lặng buông thân trời lảo đảo, Mơ hồ sông nước choáng men say…”

Cũng là người yêu thích thơ Đường, nên tôi hay tìm đọc những bài cổ thi qua bản dịch của các nhà thơ, dịch giả tên tuổi. Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, tôi đã được đọc từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường qua bản dịch của Tản Đà, sau đó là những bản dịch Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng và một số người khác. Tuy nhiên bản dịch của Tản Đà hay và nhiều người biết hơn cả.

Nhưng gần đây tôi mới tìm được bản dịch của Vũ Hoàng Chương. Đọc xong, tôi lặng người, bởi lời thơ thoát, thoáng đạt giữ nguyên thể thơ Đường, nhưng vẫn kéo tâm trạng sầu nhớ nao nao đi đến tận cùng trong lòng người lữ khách. Qủa thật, bản dịch của Vũ Hoàng Chương tôi thích hơn so với bản dịch theo thể lục bát của Tản Đà. Với tôi, đây là tác phẩm (dịch) tuyệt bút của ông. Chúng ta đọc lại dịch phẩm cuả Tản Đà và của Vũ Hoàng Chương, để nhìn nhận so sánh:

“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu? Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ. Hạc vàng đi mất từ xưa, Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày, Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non. Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” (Tản Đà)

“Xưa hạc vàng bay vút bóng người, Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi. Vàng tung cánh hạc đi đi mất, Trắng một màu mây vạn vạn đời.

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu, Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi. Gần xa chiều xuống đâu quê quán? Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!” (Vũ Hoàng Chương)

Nhát dao cắt đôi đất nước và cuộc di cư năm 1954 là bước ngoặt lớn nhất không chỉ cho riêng Vũ Hoàng Chương, mà cho cả dân tộc. Ông thực sự hoang mang trước sự bi đát ấy. Và với ông, lúc này bàn đèn kho’i thuốc dường như không còn là nơi trú ngụ cho thể xác lẫn tâm hồn. Sự dằn vặt làm ông thao thức và luôn tự hỏi về thân phận con người trong loạn ly.

Bài Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương ra đời trong hoàn cảnh, tâm trạng như vậy. Bài thơ mang hương vị thiền ở thể lục bát. Khi viết bài này, dường như thi sĩ muốn bỏ cái tham, sân, si của con người để đến gần nơi cửa phật. Cả bài thơ như một câu hỏi tu từ: “Ta còn để lại gì không?” nhằm răn mình, răn đời vậy. Đây là bài thơ không chỉ hay nhất trong thi tập Rừng Phong, mà còn là trong số (ít) những bài hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông:

“Ta còn để lại gì không? Kìa non đá lở, này sông cát bồi. Lang thang từ độ luân hồi U minh nẻo trước, xa xôi dặm về

Trông ra bến hoặc bờ mê Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương Ta van cát bụi bên đường Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.

Ðể ta tròn một kiếp say Cao xanh liều một cánh tay níu trời. Nói chi thua được với đời Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.

Tâm hương đốt nén linh sầu Nhớ quê dằng dặc, ta cầu đó thôi! Ðêm nào ta trở về ngôi Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.

Một phen đã nín cung đàn Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.”

Trong cái xã hội nhá nhem điên loạn và sự bấp bênh của thân phận con người, tết Bính thìn 1976, Vũ Hoàng Chương trải lòng mình vào Vịnh Bức Tranh Gà Lợn. Đây là bài thơ hay và lạ. Lạ bởi có lẽ ít ai dám đưa tục ngữ, thành ngữ vào trong thơ như ông một cách dân dã và châm biếm như vậy. Và bài thơ có tính thời sự cao, dễ thuộc đi vào mọi tầng lớp trong xã hội và lan truyền nhanh ở trong nước cũng như ra hải ngoại.

“Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành Gà lợn, om sòm rối bức tranh Rằng vách có tai, thơ có hoạ Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

Mắt gà huynh đệ bao lần quáng Lòng lợn âm dương một tấc thành Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh“

Tôi không rõ bài thất ngôn tứ tuyệt: Dấu Hỏi Vây Quanh Kiếp Người, được thi sĩ Vũ Hoàng sáng tác từ khi nào? Đây là bài thơ có tính thiền triết, đầy hình tượng ám ảnh, cho ta cảm giác rờn rợn khi đọc. Cả kiếp người là một câu hỏi, một câu hỏi trong vòng luẩn quẩn, đến lúc nhắm mắt xuôi tay không lời giải đáp, mà chỉ có tiếng vọng lại khi nắp quan tài sập lại:

“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người Sên bò nát óc máu thầm rơi Chiều nay một dấu than buông dứt Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.”

Bài thơ này, tiếng vọng kia, phải chăng là câu kết hay lời khép lại của chính cuộc đời thi sĩ Vũ Hoàng Chương?

Trích theo bài của tác giả Đỗ Trường

10 Bài Thơ Đường Hay Nhất Mọi Thời Đại Ai Cũng Phải Đọc Một Lần

Nội Dung

黃鶴樓 昔人已乘黃鶴去, 此地空餘黃鶴樓。 黃鶴一去不復返, 白雲千載空悠悠。 晴川歷歷漢陽樹, 芳草萋萋鸚鵡洲。 日暮鄉關何處是, 煙波江上使人愁。

Hoàng Hạc lâu Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du. Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, Phương thảo thê thê Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch nghĩa Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi, Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc. Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại, Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không. Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một, Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi. Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu? Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn!

靜夜思 床前明月光, 疑是地上霜。 舉頭望明月, 低頭思故鄉。

Tĩnh dạ tứ Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương.

Dịch nghĩa Đầu tường trăng sáng soi, Ngỡ là sương trên mặt đất. Ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng, Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà.

楓橋夜泊 月落烏啼霜滿天, 江楓漁火對愁眠。 姑蘇城外寒山寺, 夜半鐘聲到客船。

Phong Kiều dạ bạc Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hoả đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Dịch nghĩa Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời. Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài ở trước người đang ngủ buồn. Ngoài thành Cô Tô là chùa Hàn San, Tiếng chuông lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách.

黃鶴樓送孟浩然之廣陵 故人西辭黃鶴樓, 煙花三月下陽州。 孤帆遠影碧空盡, 惟見長江天際流。

Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu, Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu. Cô phàm viễn ảnh bích không tận, Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

Dịch nghĩa Bạn cũ từ biệt tại lầu Hoàng Hạc đi về phía tây, Tháng ba hoa khói, xuống Dương Châu. Bóng chiếc buồm đơn màu xanh mất hút, Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy bên trời.

題都城南莊 去年今日此門中, 人面桃花相映紅。 人面不知何處去? 桃花依舊笑春風。

Đề đô thành nam trang Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng. Nhân diện bất tri hà xứ khứ, Đào hoa y cựu tiếu xuân phong.

Dịch nghĩa Năm trước ngày này ngay cửa này, Mặt người, hoa đào ánh hồng lẫn nhau. Mặt người chẳng biết đã đi đâu, Vẫn hoa đào năm ngoái đang cười giỡn với gió xuân.

茅屋為秋風所破歌 八月秋高風怒號, 卷我屋上三重茅。 茅飛渡江灑江郊, 高者掛罥長林梢, 下者飄轉沉塘坳。 南村群童欺我老無力, 忍能對面為盜賊。 公然抱茅入竹去, 唇焦口燥呼不得, 歸來倚杖自歎息。 俄頃風定雲墨色, 秋天漠漠向昏黑。 布衾多年冷似鐵, 驕兒惡臥踏裡裂。 床頭屋漏無干處, 雨腳如麻未斷絕。 自經喪亂少睡眠, 長夜沾濕何由徹! 安得廣廈千萬間, 大庇天下寒士俱歡顏, 風雨不動安如山! 嗚呼!何時眼前突兀見此屋, 吾廬獨破受凍死亦足!

Mao ốc vị thu phong sở phá ca Bát nguyệt thu cao phong nộ hào, Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao. Mao phi độ giang sái giang giao. Cao giả quái quyến trường lâm sao, Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao. Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực, Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc. Công nhiên bão mao nhập trúc khứ, Thần tiều khẩu táo hô bất đắc. Qui lai ỷ trượng tự thán tức. Nga khoảnh phong định vân mặc sắc, Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc. Bố khâm đa niên lãnh tự thiết. Kiều nhi ác ngoạ đạp lý liệt. Sàng đầu ốc lậu vô can xứ, Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt. Tự kinh táng loạn thiểu thuỵ miên, Trường dạ chiêm thấp hà do triệt. An đắc quảng hạ thiên vạn gian, Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan, Phong vũ bất động an như san. Ô hô, hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc, Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc.

Dịch nghĩa Tháng tám, trời thu cao, gió giận dữ gào thét, Cuốn đi ba lớp cỏ tranh trên mái nhà ta. Cỏ tranh bay qua sông, rải xuống miền đất bên sông. Cao thì vắt vẻo treo trên ngọn cây rừng; Thấp thì tả tơi rơi chìm xuống ao nước. Lũ trẻ xóm nam khinh ta già yếu, Nhẫn tâm làm giặc cướp ngay trước mặt ta. Chúng công khai ôm cỏ tranh đi vào trong xóm trúc; Ta khô môi rát miệng, kêu thét mà không được. Trở về, chống gậy, thở than. Một lát sau, gió yên mây đen như mực. Trời thu bát ngát đen tối lúc chiều tà. Chiếc chăn vải dùng nhiều năm, lạnh như sắt, Bị đứa con thơ khó ngủ đạp rách toang. Ở đầu giường mái nhà dột, không chổ nào khô; Vết mưa nhiều như gai vẫn còn chưa hết. Từ khi gặp cơn loạn lạc, mình ít ngủ, Suốt đêm dài ướt đẫm, biết làm sao hết được! Mong sao có được ngàn vạn gian nhà lớn, Để giúp cho các hàn sĩ trong thiên hạ đều được vui vẻ, Không bị kinh động vì mưa gió, yên ổn như núi non! Hỡi ôi, biết bao giờ được trông thấy nhà này đứng cao sững trước mắt, Dù cho riêng nhà ta bị phá vỡ, mình có chịu rét đến chết, cũng thoả lòng!

望廬山瀑布 日照香爐生紫煙, 遙看瀑布掛前川。 飛流直下三千尺, 疑是銀河落九天。

Vọng Lư sơn bộc bố Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. Phi lưu trực há tam thiên xích, Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

Dịch nghĩa Mặt trời chiếu xuống núi Hương Lô sinh ra màu khói tía, Từ xa nhìn thác nước treo như con sông trước mặt. Bay chảy thẳng xuống từ ba nghìn thước, Ngỡ là Ngân Hà rơi khỏi chín tầng mây.

秋興其一 玉露凋傷楓樹林, 巫山巫峽氣蕭森。 江間波浪兼天湧, 塞上風雲接地陰。 叢菊兩開他日淚, 孤舟一繫故園心。 寒衣處處催刀尺, 白帝城高急暮砧。

Thu hứng kỳ 1 Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm. Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm. Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, Cô chu nhất hệ cố viên tâm. Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Dịch nghĩa Móc ngọc tơi bời ở rừng phong, Khí ở núi Vu và kẽm Vu ảm đạm mịt mờ. Trên sông, nước và trời cùng trôi chảy, Ngoài ải, gió và mây liên tiếp mù đất. Cúc từng chòm nở hai lần dòng lệ xưa, Thuyền lẻ loi buộc chặt mối tình quê cũ. Nơi nơi giục giã dao thước may áo rét, Tiếng chày chiều dồn dập thành cao Bạch Đế.

涼州詞其一 葡萄美酒夜光杯, 欲飲琵琶馬上催。 醉臥沙場君莫笑, 古來征戰幾人回。

Lương Châu từ kỳ 1 Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi. Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Dịch nghĩa Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly Muốn uống nhưng đàn tỳ bà đã giục lên ngựa Say khướt nằm ở sa trường, anh chớ cười Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về đâu.

俠客行 趙客縵胡纓, 吳鉤霜雪明。 銀鞍照白馬, 颯沓如流星。 十步殺一人, 千里不留行。 事了拂衣去, 深藏身與名。 閑過信陵飲, 脫劍膝前橫。 將炙啖朱亥, 持觴勸侯嬴。 三杯吐然諾, 五岳倒為輕。 眼花耳熱後, 意氣素霓生。 救趙揮金鎚, 邯鄲先震驚。 千秋二壯士, 烜赫大樑城。 縱死俠骨香, 不慚世上英。 誰能書閣下, 白首太玄經。

Hiệp khách hành Triệu khách mạn hồ anh, Ngô câu sương tuyết minh. Ngân an chiếu bạch mã, Táp đạp như lưu tinh. Thập bộ sát nhất nhân, Thiên lý bất lưu hành. Sự liễu phất y khứ, Thâm tàng thân dữ danh. Nhàn quá Tín Lăng ẩm, Thoát kiếm tất tiền hoành. Tương chích đạm Chu Hợi, Trì thương khuyến Hầu Doanh. Tam bôi thổ nhiên nặc, Ngũ nhạc đảo vi khinh. Nhãn hoa nhĩ nhiệt hậu, Ý khí tố nghê sinh. Cứu Triệu huy kim chuỳ, Hàm Đan tiên chấn kinh. Thiên thu nhị tráng sĩ, Huyên hách Đại Lương thành. Túng tử hiệp cốt hương, Bất tàm thế thượng anh. Thuỳ năng thư các hạ, Bạch thủ Thái huyền kinh.

Dịch nghĩa Khách nước Triệu đeo giải mũ thô sơ Thanh Ngô câu sáng như sương tuyết Yên bạc soi chiếu con ngựa trắng Lấp loáng như sao bay (Thanh gươm) mười bước giết một người Cho nên không đi xa ngàn dặm Làm xong việc rũ áo ra đi Ẩn kín thân thế cùng danh tiếng Lúc nhàn rỗi qua nhà Tín Lăng quân Cởi kiếm ra để ngang trên gối Đem chả nướng mời Chu Hợi Cầm chén rượu mời Hầu Doanh Uống ba ly chân thành gật đầu Năm trái núi lớn thật xem là nhẹ Sau khi mắt hoa, tai nóng bừng Ý khí như cầu vồng trắng bốc sinh Vung cây chuỳ cứu nước Triệu Thành Hàm Đan trước tiên đã chấn kinh Hai tráng sĩ ngàn năm sau Thanh danh lẫy lừng thành Đại Lương Dù cho chết xương cốt hiệp sĩ còn thơm Không hổ thẹn với anh hùng trên thế gian Ai là người có thể ngồi viết sách dưới gác Bạc đầu với cuốn kinh Thái huyền

Bạn đang xem bài viết Trăng Trong Thơ Của Hai Thi Nhân Kiệt Xuất Nhất Thời Đường trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!