Xem Nhiều 2/2023 #️ Trăng Trong Thơ Văn Việt Nam # Top 3 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Trăng Trong Thơ Văn Việt Nam # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Trăng Trong Thơ Văn Việt Nam mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trăng trong thơ văn Việt Nam

T răng là nguồn cảm hứng vô tận của người Việt ta trong kho tàng văn học bình dân cũng như của biết bao văn nhân, thi sĩ trong nền văn chương bác học.

Ngoài danh từ thông thường là “trăng”, trăng cònđược người Việt ta gọi bằng nhiều tên khác, rất thi vị thì có: gương nga, bóng nga, bóng nguyệt, nguyệt thiềm, …; huy hoàng đài các thì có: cung Quảng, cung Thiềm, cung Hằng, cung Quế, … Chúng ta còn tưởng tượng ra các nhân vật cư ngụ trên mặt trăng như Hằng Nga (hay chị Hằng), chú Cuội, thỏ ngọc, … cùng các giai thoại lý thú về các vị này như: Hằng Nga cùng các tiên nữ múa hát điệu Nghê Thường vào đêm rằm tháng Tám, chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa nhớ nhà chú ở địa cầu, v.v…

Trong toàn khúc Chinh Phụ Ngâm ta thấy rải rác đó đây chữ “trăng”, chữ “nguyệt”. Trăng gợi lên những tình cảm khác nhau của chinh phụ, khi nhớ thương, khi lo lắng, khi đau đớn:

Tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh cũng không thiếu câu nói về trăng:

(lúc Kiều về với Mã Giám Sinh)

(lúc Kiều đánh cắp đồ đạc trong Quan Âm Các và bỏ trốn đi)

(lúc Kiều gảy đàn cho Hồ Tôn Hiến nghe)

(lúc Kiều sắp trầm mình ở sông Tiền Đường)

. Đoạn cuối lúc Kim Kiều sum họp, trong 169 câu thì đã có 7 câu (câu 8 chữ trong cặp lục bát) nói đến trăng:

Cho đến chán đời như thi sĩ Tản Đà cũng tỉ tê tâm sự với trăng, xin lên chơi với Hằng Nga trong bài Muốn Làm Thằng Cuội :

Đi lần đến thời thơ tiền chiến, các tác phẩm của thi sĩ Hàn Mạc Tử có lẽ chiếm kỷ lục về số bài thơ tả trăng: trong 106 bài thơ tôi được đọc thì có đến 62 bài nói tới trăng. Độc đáo nhất là bài Trăng Vàng Trăng Ngọc: trong toàn bài thơ gồm 15 câu và tựa đề, tôi đếm được tất cả 31 chữ “trăng”.

Bởi cuộc đời của thi sĩ quá bất hạnh, quá bi thương nên bao nhiêu cảm hứng, bao nhiêu đau khổ buồn vui người đều gởi gắm cho trăng.

Thi sĩ đùa giỡn với trăng, say với trăng, uống trăng, v.v… qua các bài thơ với tựa đề toàn là trăng: Chơi Lên Trăng, Đà Lạt Trăng Mờ, Một Miệng Trăng, Một Nửa Trăng, Ngủ Với Trăng, Rượt Trăng, Sáng Trăng, Say Trăng, Trăng Tự Tử, Trăng Vàng Trăng Ngọc, Uống Trăng, Vầng Trăng, v.v…

Lúc thì thi sĩ nâng niu trăng, muốn nhờ thuyền chở trăng về cho kịp:

khi thì lại rao bán trăng đi, như trong Trăng Vàng Trăng Ngọc:

rồi lại đổi ý không nỡ bán trăng vàng ngọc:

và thi sĩ cầu nguyện cho trăng được sáng ngời:

Trăng của Hàn Mạc Tử được nhân cách hóa thành là bạn để cùng thi sĩ đuổi bắt nhau chơi:

Trăng bay lả tả ngả lên cành vàng,

hay trở thành là rượu, là thức ăn:

Trong khi trăng của Thúy Kiều được ân cần chia xẻ làm đôi, nửa ở lại với Kiều, nửa theo Thúc Sinh (” Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường“), thì trăng của Hàn Mạc Tử bị tàn phá bi thảm hơn: ” cắn vỡ” và ” đứt ruột ” là những hình ảnh hủy diệt chết chóc:

Theo như lời Hàn Mạc Tử trong bài tựa tập Thơ Điên, vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh.

Mà quả thật càng đọc thơ Hàn Mạc Tử, tôi càng thấy “ớn lạnh”. Và “chóng mặt”. Bởi vì, vào những ngày tháng cuối đời của người, trăng trong thơ Hàn Mạc Tử càng lúc càng gắn bó với: ” sóng gió rùng rùng, địa chấn, thần phách ngả lao đao, mê dại, thét chòm sao, muôn năm rướm máu “:

Mà muôn năm rướm máu trong không gian.

Nhà thơ tiền chiến kỳ cựu Xuân Diệu cũng có một số bài thơ về trăng như các bài: Trăng, Nhị Hồ, Đây Mùa Thu Tới, Nguyệt Cầm, Thu, Buồn Trăng, Hoa Đêm; nhưng theo ý tôi, đặc sắc nhất là trăng trong bài thơ Lời Kỹ Nữ .

Khi kỹ nữ mời khách thì trăng sáng quá, rộn ràng như trên trời đang bày yến tiệc:

và trăng khoan thai, không vội vàng chi, lên cao trên vòm trời:

Nhưng khi trăng vừa mới lên cao, nàng kỹ nữ đã cảm thấy bao thoáng buồn rờn rợn của một sự chia ly:

Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.

Bây giờ thì bầu trời trở nên lạnh lẽo, bởi vì bầu trời đầy trăng. Trăng không còn đẹp nữa, mà trăng làm nàng run sợ:

vì cuộc chia ly đã đến:

nên trăng bây giờ lạnh buốt:

Chỉ trong vài đoạn thơ mà trăng của nàng kỹ nữ đi từ sáng vằng vặc đầy tình tứ đến chỗ lạnh buốt, lạnh buốt đến xương da chớ không chỉ là trăng ngà lạnh lẽo!

Còn rất nhiều vần thơ bất diệt mà trăng là nguồn cảm hứng của thi nhân, như:

Dưới trăng mờ thổn thức? … Ai đem trăng rải lên trên vườn chè.

60 có tựa đề Tôi còn nhớ bài ca vọng cổ do nghệ sĩ Út Trà Ôn hát vào khoảng các năm 1950 – 19 Gánh Nước Đêm Trăng. Bài ca mở đầu bằng bốn câu tả đêm trăng và đôi bạn tình nhân ở miền quê cùng đi gánh nước:

” Sương thu lạnh bao trùm trên cảnh vật,

Nước giếng trong, giữa đồi cát mịn ánh nguyệt mờ soi đôi bóng giao kề. ”

Khi tình còn nồng thắm thì trăng dìu dịu soi đôi bóng tình nhân. Sau đó, chàng trai phải rời làng quê đi làm ăn ở phương xa. Đêm cuối cùng trước khi chia tay, cô bạn hứa rằng sẽ không phụ bạc anh. Thế nhưng, ba năm sau anh trở về thì người yêu đã đi lấy chồng. Anh cũng lại đi gánh nước vào đêm trăng, mà trăng nay đã khác, trăng lẻ loi quá:

” Đêm nay vầng trăng khuya, như âm thầm lẻ bóng … ”

Với lời mộc mạc mà thống thiết, anh trách trăng:

” Trăng ơi, trăng sáng làm chi khi lòng tôi đang u tối; nước giếng sâu trong vắt sao tình của ai kia như vũng nước trong bùn. ”

Bài vọng cổ không cần văn chương trau chuốt, mà ý tình chân thành vẫn gây xúc động đến tận đáy tâm hồn người nghe.

Trong văn chương bình dân, có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ nói đến trăng. Tôi xin trích ra một số câu sau đây:

* * *

gày 20 tháng 7 năm 1969, lúc 10 giờ 56 phút đêm (giờ EDT) nhân loại trên quả đất bước một bước dài: phi hành gia Neil Armstrong là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng.

Một sự thật “đau lòng” được khám phá: không có Hằng Nga, không có tiên nữ, cung Quảng, cung Quế, chú Cuội, thỏ ngọc, … mặt trăng chỉ là một khối đá lởm chởm đầy bụi cát, không có một giọt nước, một lá cây. Sự thật này không làm người Việt chúng ta thất vọng: mặt trăng vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng sáng tác của văn nhân thi sĩ nước ta sau đó. Thí dụ như:

Tác phẩm Trăng Đất Khách, một tuyển tập các cây bút nữ ở hải ngoại do cơ sở Làng Văn xuất bản năm 1987, gồm 15 truyện ngắn và 25 bài thơ. Trong số 25 bài thơ thì đã có 12 bài đề cập đến trăng, tiêu biểu là bài Trăng Đất Khách với tựa đề được chọn làm tựa đề cho cuốn sách. Tôi xin trích dẫn một vài vần thơ trăng khá hay trong số các bài thơ trên:

Hai thi phẩm Trăng Hoàng Hôn và Nửa Rừng Trăng Lạnh của thi sĩ Quách Tấn viết trong khoảng năm 1975 tới 1977 chứng tỏ rằng: cho dù mặt trăng có thực sự lởm chởm đá sỏi bao nhiêu đi nữa, trăng vẫn là nguồn cảm hứng dạt dào của người, và có phần linh động hơn, sắc sảo hơn so với trăng trong các tác phẩm của thi sĩ đã xuất bản vào khoảng năm 1939-1941.

Hãy ngắm trăng trong Trăng Hoàng Hôn :

– Canh chầy lòng biết gởi ai,

Sân trăng nhìn cúc tháng Hai ngậm ngùi.

– Long lanh giếng mọc đầy sao,

Trà chuyên độc ẩm ngọt ngào trăng khuya.

– Bạn xưa gác bút cả rồi,

Nghìn thu chớp ánh sao băng cuối trời.

của trăng, trăng tà hiu hắt, sân trăng gợi ngậm ngùi, trăng khuya ngọt ngào, trăng đọng giọt trên tàu chuối non (màu lá chuối non trong đêm lẫn với màu ánh trăng mà thi sĩ vẫn nhìn thấy được ” giọt” trăng trên tàu lá), và ngâm trăng (ngâm trăng chớ không còn ngâm thơ nữa) … tất cả đã đạt đến mức xuất hồn nhập trăng!

Ngoài ra, trên trang Việt Nam Thư Quán (http://vnthuquan.net) tôi tìm thấy trên dưới 250 bài thơ với tựa đề có chữ “trăng” của các thi sĩ trong văn học sử Việt Nam, và của các tác giả mới ở hải ngoại trong giai đoạn sau năm 1975. Ngoài những bài thơ với tựa đề có chữ “trăng” này, còn vô số tác phẩm trong các thể loại khác như: nhạc, truyện ngắn và truyện dài, tuy không mang tựa đề “trăng”, nhưng trăng vẫn là nguồn cảm hứng sáng tác dồi dào của nhạc sĩ, văn sĩ.

Nếu nói cho đầy đủ thì có lẽ không bao giờ hết chuyện trăng trong văn chương nước ta. Còn rất nhiều bài thơ trăng, truyện trăng, nhạc trăng, v.v… mà tôi không thể dẫn chứng hết vào đây được. Có lẽ sẽ phải dành một cuốn sách riêng cho trăng với tựa đề “Trăng”, hay “Người Việt Nam và Trăng” chăng?

Hình ảnh phi thuyền Apollo 11 lên mặt trăng, từ trái sang phải:

1/ Phi hành gia Neil Armstrong đặt bước chân đầu tiên xuống mặt trăng ngày 20 tháng 7, 1969.

2/ Phi hành gia Buzz Aldrin bước đi trên mặt trăng.

3/ Dấu chân của phi hành gia Aldrin.

4/ Nơi phi thuyền Apollo 11 đáp xuống, trong vùng đất gọi là Sea of Tranquility (hình của tác giả Soerfm)

(Trích từ wikipedia.org)

Tien Le Publisher 2011 – All Rights Reserved

Rắn Trong Văn Học Sử Việt Nam

Rắn Trong Văn Học Sử Việt Nam 

Trong văn học sử của ta, mà cũng có liên hệ sử Tàu, chúng ta còn nhớ giai thoại bà Đoàn Thị Điểm (sinh năm Ất Dậu 1705, mà người ta cho là tác giả Chinh Phụ Ngâm, mà cũng có người cho là của Phan Huy Ích) đã đối đáp tài tình với ông anh là Đoàn Doãn Luân. Một hôm ông này muốn thử tài cô em gái, bèn lấy một câu chữ trong Sử Ký của Tư Mã Thiên nói về Lưu Bang (Hán Cao Tổ) làm đề tài để cho bà đối đáp.

Câu ấy như sau: 

Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi

Nghĩa là con rắn trắng đón đường, ông Quý (Lưu Bang) liền rút gươm ra chém (con rắn bị đứt làm hai khúc, chết liền).

Bà Đoàn Thị Điểm nhanh trí, cũng dùng một câu trong Sử Ký đời vua Nghiêu Thuấn, nói về ông Vũ (tức là vua Hạ Vũ, sau này nối ngôi vua Thuấn), để đối lại như sau:

Hoàng Long phụ châu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết

Nghĩa là: Con Rồng vàng đội chiếc thuyền, ông Vũ nhìn trời mà than!

Chẳng phải “liu điu” vẫn giống nhà

“Rắn đầu” biếng học, chẳng ai tha

Thẹn đèn “hổ lửa” đau lòng mẹ,

Nay thét “mai gầm” rát cổ cha.

“Ráo” mép chỉ quen tuồng nói dối,

“Lằn” lưng cam chịu vết roi tra.

Từ nay “Trâu Lỗ” chăm nghề học.

Kẻo “hổ mang” danh tiếng thế gia.

Đặc điểm của bài thơ này là: nếu ta bỏ hai chữ ở đầu mỗi câu, ta sẽ được một bài Ngũ ngôn bát cú:

Liu điu vẫn giống nhà

Hổ lửa đau lòng mẹ,

Mai gầm rát cổ cha.

Chỉ quen tuồng nói dối,

Cam chịu vết roi tra.

Trâu Lỗ chăm nghề học.

Mang danh tiếng thế gia.

Xin lưu ý: “Trâu” ở đây chỉ loài rắn hổ trâu, Lỗ là quê quán Đức Khổng Tử mà thiên hạ gọi là Vạn Thế Sư Biểu, hay là Sinh Dân Vị Hữu, nghĩa là từ khi có loài người thì chưa có ai (bằng ông ta)! Còn nước Trâu là quê hương của Thầy Mạnh Tử.

Có một câu xướng độc đáo:

Nước lỗ trâu chảy ra Khổng Mạnh

Nghĩa là: Dòng nước nhỏ từ lỗ chân trâu ra thì không có (khổng) mạnh mẽ.

Câu này khó quá chưa ai đối được cả!

Đã nhắc tới Bảng Nhỡn Lê Quý Đôn (tục danh Lê Danh Phương), tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, sinh ra trong niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (1726), đời vua Lê Dụ Tông, thời chúa Trịnh Cương ở xã Diên Hà, tỉnh Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình), con của ông Lê Phú Thứ và bà họ Trương. Thân sinh đã từng đỗ Tiến sĩ năm 1724 và làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư. Thuở bé Lê Danh Phương đã nổi tiếng thần đồng về trí thông minh và óc nhớ dai: Hai tuổi đã biết đọc chữ “Hữu” là có, và “Vô” là không. Năm tuổi đã đọc nhiều thiên trong Kinh Thi. Mười một tuổi đã học Sử (Sử Ký của Tư Mã Thiên, Bắc Sử, Nam Sử v.v…), học thuộc lòng tám chín chục trang, đồng thời học luôn cả Kinh Dịch. Mười bốn tuổi học hết Ngũ Kinh, Tứ Thư, sử truyện và sách vở của Bách Gia Chư Tử, mỗi ngày có thể cảm tác mười bài phú mà không cần viết nháp.

Nguồn: trankimlan.wordpress.com                                Đăng Khoa st.

Nhân Vật Trong Thơ : Dáng Đứng Việt Nam

Từ hình ảnh 2 người lính Tiểu đoàn 16 hi sinh, thi thể tì trên xác thiết giáp, tay vẫn ôm chặt súng hướng nòng về phía địch, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết nên bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ.

Từ hình ảnh 2 người lính Tiểu đoàn 16 hi sinh, thi thể tì trên xác thiết giáp, tay vẫn ôm chặt súng hướng nòng về phía địch, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết nên bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ.

“Anh tên gì hỡi anh yêu quý!”

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”

(trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” là một trong những tác phẩm cuối cùng của nhà thơ Lê Anh Xuân. Trong di sản của mình, có lẽ đây là tác phẩm đã làm nên tên tuổi Lê Anh Xuân trở thành một cây đại thụ trong làng thơ ca Việt Nam cận hiện đại. “Dáng đứng Việt Nam” cũng đã trở thành hình tượng người anh hùng, đại diện cho chí khí chiến đấu bất khuất của bộ đội cụ Hồ cho đến ngày hôm nay.

Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, rất nhiều thế hệ đã yêu và say mê những câu từ chân chất mà đầy hình tượng bi tráng của bài thơ, đặc biệt là với người lính. Thế nhưng, ít ai biết hình tượng ấy có nguyên mẫu từ đâu, đến chính nhà thơ Lê Anh Xuân khi viết bài thơ này cũng không biết người chiến sĩ bất khuất, kiên cường ấy là ai. Bởi thế, nhà thơ mới viết:

“Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ”

(trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành – nguyên Trung đội phó Trung đội đại liên – Tiểu đoàn 16, tiết lộ: “Nguyên mẫu của người chiến sĩ trong bài thơ này là anh Nguyễn Công Mẹo, nguyên quán ở thôn Đồng Vinh 1, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa và 1 chiến sĩ nữa mà anh em chứng kiến không biết tên”.

Theo ông Thành, sau trận đánh vào Tân Sơn Nhất, 2 đại đội đánh sâu vào sân bay chỉ còn vài người còn sống và bị thương nặng. Sau khi về đến bộ chỉ huy có kể lại tình hình chiến đấu cho chỉ huy, trong đó có nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ đang theo đoàn quân chiến dịch.

Trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như 1 trong những trận đánh ác liệt nhất

Dựa vào lời kể của các chiến sĩ vừa về từ chiến địa, nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ viết bài ký “Thư Tân Sơn Nhứt” vào ngày 2/2/1968 với nhiều câu chuyện chiến đấu quả cảm của các đơn vị tham chiến như Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 12 đặc công, Biệt động thành Gò Môn…

Trong bài ký này có đoạn miêu tả về 2 người chiến sĩ kiên cường, đã chết nhưng vẫn tì thân trên xác xe thiết giáp M41 đã bị bắn cháy. 2 anh đã chết nhưng tay vẫn ôm chặt súng, thân tì trên xác xe nên không ngã xuống.

Sau đó, từ cảm hứng này, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết thành bài thơ về hình tượng 2 người chiến sĩ trên vào tháng 3/1968. Ban đầu, bài thơ có tên là “Anh giải phóng quân” được lưu truyền rộng rãi trong anh em bộ đội và nhân dân Long An, sau đó mới được đổi tên thành “Dáng đứng Việt Nam” khi in thành sách. Chỉ chưa đầy 2 tháng sau khi viết bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”, ngày 5/6/1968, nhà thơ Lê Anh Xuân hy sinh tại chiến trường Cần Đước, Long An.

Còn sống còn hy vọng đi tìm đồng đội…

Ông Vũ Chí Thành chia sẻ: “Trận chiến đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất dịp Tết Mậu Thân quá ác liệt, 2 đại đội của Tiểu đoàn 16 đánh sâu vào sân bay chỉ còn 6, 7 người còn sống nên thông tin rất ít. Các đồng chí còn sống kể có thấy hình ảnh 2 đồng đội mình hy sinh như thế nhưng không biết là ai vì tình hình chiến đấu quá ác liệt, không còn thời gian để quan sát người nào còn sống, người nào đã chết nữa. Mãi sau này, một số đồng chí bị thương nên không rút lui được, bắn hết đạn nên không thể chống trả và bị địch bắt, đày đi Côn Đảo được giao trả về mới biết được lai lịch 2 đồng đội là nguyên mẫu trong bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”.

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành là người dành nhiều công sức để sưu tầm sử liệu về Tiểu đoàn 16 vì tiểu đoàn đã xóa phiên chế nên không còn bộ phận làm truyền thống đơn vị

Theo ông Thành, 2 chiến sĩ này tì trên xác chiếc thiết giáp M41 chứ không phải xác trực thăng như trong bài thơ. Lúc này, liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo ôm khẩu AK, còn 1 chiến sĩ thì tì khẩu 12 ly 7 lên xác chiến xa làm điểm tựa. Tên lính Mỹ theo đoàn xe tăng phản kích bị xác chiến xa che khuất nên không thấy, khi vượt qua chiến xa thì thấy bóng dáng 2 khẩu súng chỉa thẳng về phía mình nên giật mình ngã ngữa về sau, súng rơi khỏi tay nên tên Mỹ vội vàng ôm đầu để đầu hàng. Mãi không thấy động tĩnh, khi tên lính Mỹ đứng dậy đến gần mới phát hiện 2 anh giải phóng quân đã chết, chỉ là chưa ngã xuống và súng vẫn trên tay…

Những chiếc thiết giáp bị bắn cháy tại Tân Sơn Nhất trong trận Tết Mậu Thân (ảnh tư liệu)

Ông Thành cho biết: “Do người chứng kiến đứng gần liệt sĩ Mẹo hơn nên nhận ra anh, còn chiến sĩ còn lại bị khuất sau lưng liệt sĩ Mẹo nên người này không nhận ra. 1 phần vì ở xa, 1 phần anh Mẹo là Chính trị viên phó Đại đội 1 nên nhiều người quen thuộc với anh, nhận ra anh. Còn anh chiến sĩ còn lại thì hơi lạ mặt nên anh em không nhận ra. Đến nay tôi tìm hiểu khắp lượt vẫn chưa hỏi ra được anh tên gì”.

Trong những năm qua, ông Thành cũng đã cất công đi tìm hiểu, viết lại chiến tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo, tìm về quê quán của liệt sĩ để xác minh lý lịch nhân thân gia đình, xin xác nhận của địa phương để làm hồ sơ xin truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo.

Quyển sách cũ có in “Thư Tân Sơn Nhứt” là tư liệu mà ông thường xem

Bản tài liệu thành tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo mà ông dày công sưu tập, tìm hiểu, chấp bút để xin truy tặng danh hiệu Anh hùng cho đồng đội mình

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành nói: “Trường hợp hy sinh của đồng chí Nguyễn Công Mẹo là rất anh dũng, xứng đáng được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Riêng bản thân tôi và nhiều cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 – Phân khu 2 còn sống ở cả 2 miền Nam – Bắc đều nhất trí đề nghị các cấp thẩm quyền xem xét. Anh em chúng tôi đang cố gắng liên hệ với các cơ quan chức năng để làm việc này. Rất tiếc là chiến sĩ còn lại chưa rõ tên tuổi, quê quán nên chúng tôi chưa làm được gì cho anh!”.

Ước nguyện cả đời của người lính già này là được thấy các đồng đội được về bên nhau và truy tặng Anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng

Theo cựu chiến binh Vũ Chí Thành, việc đi các nơi để thu thập thông tin, giấy tờ, xác nhận để truy tặng danh hiệu cho các đồng đội đã ngã xuống cũng quan trọng như việc đi tìm kiếm di hài của các anh đưa về quê hương bản quán. Bởi đó là trách nhiệm, là nghĩa tình của người còn sống đối với người đã khuất. Bởi thế, ông hy vọng khi mình còn sống sẽ được thấy tất cả 380 anh em của Tiểu đoàn 16 đã mất trong trận đánh Tân Sơn Nhất được quy tập về 1 nơi, ít ra cũng có cái tên cùng nhau trên bia kỷ niệm. Ông cũng hy vọng mình đủ sức khỏe để đi làm thủ tục xin truy tặng danh hiệu anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng đã ngã xuống của ông…

Những ước nguyện đó của ông vẫn còn đầy trắc trở. Bởi các đồng đội của ông cũng như rất nhiều chiến sĩ anh hùng khác đã hy sinh mà ”… chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ!”.

Tùng Nguyên – Quốc Anh

Việt Nam Xinh Đẹp Trong Trang Phục H’Mông

Trong phần thi chụp hình photoshoot, Diệu Linh đã chọn trang phục cô gái H’Mông của nhà thiết kế Ngô Mạnh Đông Đông. Hỗ trợ bởi slylist khun Chai qua bộ ảnh của Rin Trần, cùng ngắm trang phục đã tạo nên bản sắc của Việt Nam trên đấu trường quốc tế.

Thông thường tại các sàn trình diễn thời trang quốc tế, tà áo dài thướt tha của Việt Nam sẽ là đại diện cho trang phụ truyền thống. Quốc phục được thiết kế cách tân với nhiều chất liệu sang trọng khác nhau. Lần này, điểm khác biệt là một bộ váy người H’Mông đem lại ấn tượng đặc biệt với cả người Việt và khán giả nước ngoài.

Phong cách mà Diệu Linh thể hiện nét duyên dáng của dân tộc H’Mông bao gồm bộ váy cách tân, đôi bốt, mũ đội đầu và chiếc ô duyên dáng. Tất cả là những họa tiết dân tộc được trang trí tỉ mỉ.

Bộ váy lấy cảm hứng từ váy cưới của người H’Mông, tone màu trầm tối với nhiều hoa văn, trang trí tua dua và phụ kiện đính kèm. Phần cầu vai để rộng, váy xòe ngắn, boot cao và ôm đến trên đầu gối.

Thiết kế thổ cẩm này mang nhiều họa tiết thêu, đính đá bằng tay rất công phụ. Đặc biệt chiếc ô thủ công được các nghệ nhân tỉ mỉ từng chi tiết.

Phụ kiện khuyên tai, vòng cổ đều chạm bằng bạc. Cả trang phục và phụ kiện nặng hơn 30kg.

Để hoàn thành trang phục này trong vòng 2 tháng, cần tới ekip 26 người. Ấn phẩm thời trang đã tô điểm cho hoa hậu đại diện Việt Nam một vẻ đẹp truyền thống mà hiện đại, dịu dàng mà tinh tế.

Hi vọng sau phần chụp hình, hoa hậu Diệu Linh sẽ tạo ấn tượng tốt trong cuộc thi trong các phần trình diễn của mình.

– Trịnh Thị Dung – 

Bạn đang xem bài viết Trăng Trong Thơ Văn Việt Nam trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!