Xem Nhiều 12/2022 #️ Trung Tâm Y Tế Thành Phố Thuận An / 2023 # Top 17 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Trung Tâm Y Tế Thành Phố Thuận An / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Trung Tâm Y Tế Thành Phố Thuận An / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Video sự kiện

  • Bảo hiểm thai sản

  • Thay đổi quan trọng trong chế độ bảo hiểm xã hội từ năm 2016

  • Bảo hiểm xã hội – từ chính sách đến cuộc sống

  • Cách tính Bảo hiểm xã hội mới từ năm 2016

    1

    Đánh giá mức độ hài lòng

    Bạn có hài lòng về các dịch vụ của TTYT Thuận An?

    Rất hài lòng

    Chưa hài lòng

    Hài lòng

    Bình thường

    Rất không hài lòng

    Bình chọn Xem kết quả

    Liên kết web site

    select

    Thống kê truy cập

    Đang online:

    23

    Hôm nay:

    1129

    Trong tuần:

    12 933

    Tất cả:

    1

    3

    9

    6

    5

    7

    Đăng nhập

    Tên đăng nhập

    Mật khẩu

    Mã kiểm tra

    Quên mật khẩu

    Đất Nước Ở Trong Tim – Trung Tâm Y Tế Huyện Mỹ Lộc Nam Định / 2023

    Đất nước mình bé nhỏ vậy thôi em

    Nhưng làm được những điều phi thường lắm

    Bởi hai tiếng nhân văn được cất vào sâu thẳm

    Bởi vẫn giữ vẹn nguyên hai tiếng đồng bào. Em thấy không? Trong nỗi nhọc nhằn, vất vả, gian lao

    Khi dịch bệnh hiểm nguy đang ngày càng lan rộng

    Cả đất nước mình cùng đồng hành ra trận

    Trên dưới một lòng chống dịch thoát nguy.

    Với người láng giềng đang lúc lâm nguy

    Đất nước mình không ngại ngần tiếp tế

    Dù mình còn nghèo nhưng mình không thể

    Nhắm mắt làm ngơ khi ai đó cơ hàn.

    Với đồng bào mình ở vùng dịch nguy nan

    Chính phủ đón về cách ly trong doanh trại

    Bộ đội vào rừng chịu nắng dầm sương dãi

    Để họ nghỉ ngơi nơi đầy đủ chiếu giường.

    Với chuyến du thuyền đang khóc giữa đại dương

    Mình mở cửa đón họ vào bến cảng

    Chẳng phải bởi vì mình không lo dịch nạn

    Mà chỉ là vì mình không thể thờ ơ.

    Thủ tướng phát lệnh rồi, em đã nghe rõ chưa

    ‘Trong cuộc chiến này sẽ không có một ai bị để lại’

    Chẳng có điều gì làm cho mình sợ hãi

    Khi trong mỗi người nhân ái được gọi tên.

    Từ mái trường này em sẽ lớn lên

    Sẽ khắc trong tim bóng hình đất nước

    Cô sẽ nối những nhịp cầu mơ ước

    Để em vẽ hình Tổ quốc ở trong tim.

    Nhớ nghe em, ta chẳng phải đi tìm

    Một đất nước ở đâu xa để yêu hết cả

    Đảng đã cho ta trái tim hồng rạng tỏa

    Vang vọng trong lòng hai tiếng gọi Việt Nam!

    (Sưu tầm)

    Xin được mượn lời thơ của cô giáo Chu Ngọc Thanh – Giáo viên Trường THCS Ia Grai, tỉnh Gia Lai (Bài thơ được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khen khi ca ngợi đất nước trong cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19) để gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến những “chiến sĩ áo trắng” đang ngày đêm bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân.

    Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh / 2023

    Kiều Thanh

    (Vanchuongphuongnam.vn) – Nhà thơ Lê Anh Xuân (1940-1968) tên thật là Ca Lê Hiến, người Bến Tre… Thân phụ anh là giáo sư Ca Văn Thỉnh (1902-1987), nhà nghiên cứu văn học, có 6 người con. Chị của Lê Anh Xuân là Ca Lê Du, cán bộ, các anh là Ca Lê Dân, Ca Lê Thuần (nhạc sĩ), em gái là Ca Lê Hồng (Đạo diễn, NSƯT), em trai, Ca Lê Thắng.

    Lê Anh Xuân theo cha tập kết ra Bắc học tập. Ra trường, làm giáo sư Khoa Sử thế giới tại Đại học Tổng hợp Hà Nội, rồi được cử đi nghiên cứu ở Liên Xô nhưng anh có nguyện vọng xin về Nam phục vụ (tháng 12/1964). Vừa hoạt động văn nghệ, vừa cầm súng ra trận chiến đấu, anh hy sinh tháng 5/1968) tại huyện Cần Đước (Long An). Lê Anh Xuân được truy tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2011) và Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001). Tác phẩm: Tiếng gà gáy (thơ,1965), Không có đâu như ở miền Nam (thơ, in chung, 1968), Nguyễn Văn Trỗi (trường ca, 1968), Hoa dừa (thơ, 1971), Thơ Lê Anh Xuân (tuyển thơ, 1981), Giữ đất (tập văn xuôi, 1966). Tên nhà thơ Lê Anh Xuân được đặt cho một con đường tại Quận 1,TP. HCM, và một con đường tại Đồng Hới, Quảng Bình.

    “Dáng đứng Việt Nam” là nhan đề được nhà văn nổi tiếng Anh Đức đặt lại từ bài thơ “Anh giải phóng quân” của nhà thơ Lê Anh Xuân. Chủ đề khá gần gũi với bài thơ “Bài ca Xuân 68” của Tố Hữu (1920-2002), bài thơ của Lê Anh Xuân ca ngợi chân dung sáng ngời khí phách anh hùng của anh chiến sĩ giải phóng quân, trong lần tấn công vào phi trường Tân Sơn Nhứt, đợt I của cuộc Tổng tiến công vào mùa Xuân năm 1968. Phẩm chất cao đẹp của anh giải phóng quân trong bài thơ đã phản ánh được không ít dấu ấn cuộc sống hiện thực vô cùng ý nghĩa của tác giả – nhà thơ – chiến sĩ. Lê Anh Xuân trong thời đấu tranh, đuổi giặc giữ nước.

    Xuất thân trong một gia đình giáo dục có truyền thống cách mạng ở Bến Tre – Nam bộ, mới 12 tuổi, Ca Lê Hiến đã bắt đầu tỏ ra say mê với văn chương. Ở vùng giải phóng, bên cạnh anh chị và các em  cùng gắn bó với phong trào cách mạng, Ca Lê Hiến vừa học vừa làm tại một nhà in, đồng thời sáng tác thơ văn, gởi đăng báo ở chiến khu. Sau chiến thắng Điện Biên lừng lẫy năm châu (1954) của quân dân ta, theo Hiệp định Genève, Ca Lê Hiến theo cha tập kết ra Bắc. Anh theo học tại trường học sinh miền Nam (Hải Phòng) rồi lên học tiếp trường Cấp 3 Phổ thông Nguyễn Trãi tại Hà Nội. Ra trường, anh dạy Đại học, rồi được cho đi nghiên cứu ở nước ngoài, nhưng Lê Anh Xuân muốn xin về quê hương phục vụ. Khi về Nam (16/9/1964), lúc đầu, anh phục vụ tại ban Tuyên huấn Trung ương Cục Miền Nam rồi sau đó chuyển sang công tác ở Hội Văn nghệ Giải phóng. Từ đây, sáng tác văn thơ, Ca Lê Hiến bắt đầu sử dụng chính thức bút danh Lê Anh Xuân (kết hợp bằng chữ lót Lê của tên Ca Lê Hiến + chữ đầu Anh của bút danh nhà văn Anh Đức (1935-2014) (Bùi Đức Ái) + chữ lót Xuân của tên người yêu nhà thơ là Bùi Xuân Lan – người Cần Thơ –  vốn là em ruột của tác giả Hòn đất.

    Về Nam, Lê Anh Xuân đã có những vần thơ ca ngợi miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà thơ bồn chồn nhớ lại cảm xúc say đắm yêu thương nồng nàn về một hiện thực bề bộn, thay đổi nhanh chóng trên con đường đi lên, nhà thơ đã vẽ lên trong những vần thơ đẹp của mình hình ảnh những công trình, con đường, những nhà máy, những mùa gặt… biểu tượng cuộc sống mới bừng nở của miền Bắc đang thay da đổi thịt từng ngày: “Thái Nguyên bừng nở khu gang thép/ Việt Trì khói trắng như mây trôi…”. Hết “Lên bắc Sơn”, Lê Anh Xuân lại xuống “Đêm Uông Bí”, để nói lên tất cả niềm lạc quan trong sáng hòa quyện trong cái tình yêu sôi nổi như máu thịt của mình: “Miền Bắc ơi ! sao tôi yêu quá / Như yêu em, yêu má, yêu ba/ Xa quê hương miền Bắc là nhà” (Mười năm). Miền Bắc hay miền Nam đều là quê hương.

    Người chiến sĩ giải phóng, trong lần tiến công đợt I sân bay Tân Sơn Nhất vào xuân Mậu Thân, đã hy sinh một cách anh hùng trong tư thế tiến công kẻ thù: “Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt/ Nhưng anh gượng đứng lên, tì súng vào xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh tuôn theo lửa đan cầu vòng/ Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm/ Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”. Anh vĩ đại mà vô cùng bình dị: không tên, không địa chỉ, chỉ với đôi dép trông rất hiền lành: Như đôi dép dưới chân anh giẫm lên bao xác Mỹ/ Mà vẫn một màu bình dị sáng trong “mà có thể ”mạnh hơn tất cả đan bom/ làm run sợ cả lầu Năm góc”( thơ Tố Hữu). Người chiến sĩ giải phóng dù mang dép hay đi chân không, vẫn biểu trưng được cho chân dung khái quát của người chiến sĩ cách mạng yêu nước với “áo vải chân không/ đi lùng giặc đánh” – Hồng Nguyên (1924-1951) vì bởi ở những anh bộ đội cụ Hồ bao giờ cũng chân trần mà chí thép (từ dùng của một nhà văn nước ngoài, ca ngợi phẩm chất của bộ đội ta trong hai cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm).

    Bằng thể thơ mới phá cách, tiết điệu khỏe khoắn với câu dài ngắn không câu thúc, lời thơ dung dị tự nhiên nhưng có hình tượng nghệ thuật nên thơ, sáng tạo: “Máu anh tuôn theo lửa đạn cầu vòng”, Lê Anh Xuân tạc nên tượng đài anh chiến sĩ giải phóng quân trong bài thơ in như trong thực tế, đã hy sinh cao đẹp, hùng tráng hiện diện trong cái không gian hun hút xa thẳm của đường băng sân bay, có thể làm ta liên tưởng đến hình ảnh oai hùng gan góc của người võ sĩ giác đấu chết giữa một đấu trường mênh mông La Mã ngày xưa!

    Và tác giả bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” – Lê Anh Xuân cũng đã hy sinh một cách cao đẹp. Dù trong hoàn cảnh nào, sự ra đi mãi mãi cho một nghĩa lớn của nhà thơ Lê Anh Xuân cũng mang dấu ấn đậm nét của một chiến sĩ yêu nước vừa cầm bút vừa cầm súng, chiến đấu theo tinh thần lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi). Khi về miền Nam, trong thư từ qua lại với nhà thơ đồng hương Chim Trắng (1938-2011), Lê Anh Xuân đã nhiều lúc chân tình tâm sự với bạn là mình không muốn “đứt rễ dừa” – ý muốn nói xa rời thực tế chiến trường. Và Lê Anh Xuân thực sự đã nằm lại ở chiến trường.

    Nhà văn Lê Văn Thảo (1939-2016), nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cũng là người bạn văn đồng chí của nhà thơ sau này cho biết chính ông là người đã an táng Lê Anh Xuân sau khi tìm thấy nhà thơ đã hy sinh trong một trận càn của quân Mỹ tại vùng ven đô Sài Gòn. Tác giả “Ông cá hô” đã giúp gia đình nhà thơ tìm ra mộ bạn mình ở chiến trường xưa. Trường hợp không phải là cá biệt về sự hy sinh, và gởi thân xác tại nơi chiến trận khiến tôi trong một thoáng bồi hồi nhớ lại những câu thơ của Vương Hàn (687-735): “Túy ngọa sa trường, quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến, kỷ nhân hồi” (Lương châu từ), dịch thơ: “Sa trường ai mỉa ta say/ Xưa nay chiến địa mấy ai được về”  – Tản Đà ( 1889-1939).

    Tóm lại, qua tổng thể sự nghiệp cách mạng ngắn ngủi và nội dung tác phẩm thi ca của Lê Anh Xuân, ta có thể khẳng định anh là một hồn thơ chiến sĩ: tha thiết với những sáng tác thi ca cháy bỏng tình yêu đất nước và tấm lòng hăm hở muốn được có mặt ở thực tế chiến trường, trực diện đấu tranh với kẻ thù chung của dân tộc. Bày tỏ cảm xúc khi liên hệ đến Lê Anh Xuân, nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam tiết lộ: “Tôi khao khát được ra chiến trường vì đọc Trường ca Nguyễn Văn Trỗi của Lê Anh Xuân… Lê Anh Xuân xứng đáng là anh hùng trong thơ và cả trong đời”. Điển hình hơn cả, qua bài “Dáng đứng Việt Nam”, ta có thể nói nhà thơ Lê Anh Xuân đủ tư cách và điều kiện được coi là biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là tầm vóc đích thực và đúng nghĩa một con người mang dáng đứng Việt Nam.

    K.T

    Bằng Ý Chí Và Niềm Tin, “Từ Thành Phố Này Người Đã Ra Đi”… / 2023

    (TG)-

      Nay chúng ta có đến lại Bến Nhà Rồng, xem lại nơi mà 109 năm trước, sáng ngày 4/6/1911, người thanh niên yêu nước mang tên Văn Ba đã xuống chiếc tàu Latousetrvel, rồi sáng ngày hôm sau, con tàu nhổ neo đưa Người ra đi tìm con đườngcứu nước. Nơi đây, vẫn như đọng lại những hình ảnh xưa, khi Người đã vào Sài Gòn với đất trời phương Nam

    .

    Hồi ức về ngôi trường xưa hơn 110 tuổi

    Những ngày Tháng 5 lịch sử này, chúng tôi hành hương về ngôi trường Dục Thanh do các nhà yêu nước từ đầu thế kỷ trước sáng lập, thăm lại ngôi trường cổ kính nhất nhì này ở vùng Nam Trung bộ, không ai không khỏi xúc động. Đây là ngôi trường nằm trung tâm của Thành phố Phan Thiết hiện nay. Đứng lặng hồi lâu, ngắm lại bộ tràng gỗ đã khá cũ kỹ đến hơn trăm năm, bên chiếc bàn đơn sơ ấy, giá sách gọn gẽ, ngăn nắp ấy, đã mang đậm dấu ấn thời gian 110 năm của ngôi trường cổ kính nhất nhì đất miền Nam. Khi ta được nhìn những bức ảnh cổ của ngôi trường về cảnh trí xưa vẫn còn lưu lại nơi đây, hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng là một thầy vào những ngày đầu năm 1910 lại hiện lên dung dị và giáo thực sự đáng kính. Lúc đó, từ Huế vào đây, Người được cụ Trương Gia Mô (bạn thân cụ Nguyễn Sinh Sắc) trong tổ chức Liên Thành Thơ Xã giúp đưa vào dạy học tại trường Dục Thanh – tỉnh lỵ cũ của đất Phan Thiết từ xưa.

    Một góc Trường Dục Thanh ngày nay – nơi thầy giáo Nguyễn Tất Thành từng dạy học. 

    Trước đó, thưở còn là học sinh tại trường Quốc học Huế, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trực tiếp chứng kiến bao thăng trầm của cảnh cố đô Huế, các triều vua quan Huế đang cảnh suy tàn; cũng như đất nước ta vào lúc đầu thế kỷ XX đang suy tàn trong vòng nô lệ, lầm than. Những ý thức làm người, kiến thức được học từ trường Quốc học Huế đã nung nấu ý chí và quyết tâm cho Người trở thành một thầy giáo chú tâm giảng giải những điều nhân – nghĩa, mà lịch sử đất nước ta đã thấm hiểu sâu cho những học sinh tại trường Dục Thanh.

    Ngôi trường Dục Thanh được ra đời năm Bính Ngọ – 1906, là ngôi trường vào loại đầu tiên đất Phan Thiết; do các nhân sĩ Liên Thành Thương Quán sáng lập, như: Trần Lệ Chất, Hùynh Thúc Kháng Phan Chu Trinh, Nguyễn Qúy Anh… đều là những nhà nho nổi tiếng của Liên Thành Thơ xã, có ảnh hưởng lớn ở vùng Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

    Các tư liệu sử học ghi lại: Vào những năm đầu thế kỷ XX, khi cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sắp bước vào lần thứ 3, hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, cụ Trần Lệ Chất, một nhà nho yêu nước ở Nam Trung Bộ đứng ra chiêu hiền, lập ra Hội Liên Thành Thơ xã, tại Nhà Võ Ca đình làng Phú Tài, tỉnh lỵ Phan Thiết lúc đó. Khi thành lập xong, các ông cho mở các lớp dạy chữ Hán và Pháp văn, chương trình do những nhà nho yêu nước đảm trách. Các lớp học được dạy vào mỗi buổi tối do các trợ giáo Nguyễn Hiệt Chi – quê Hà Tĩnh – dạy Hán văn; ông Phán sự Lệ Chất, phụ trách dạy Pháp văn. Tất cả sách học đều do phong trào Đông  Kinh Nghĩa Thục biên khảo, chú giải, mà người trực tiếp gửi vào Phan Thiết là ông Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, người giao thân chí thiết của cụ Trần Lệ Chất đích thân mua gữi cho trường Dục Thanh.

    Dạy làm người ở trường Dục Thanh

    Tài liệu lưu trữ của người Pháp để lại tại Kho Lưu trữ Quốc gia II – Cục Lưu trữ Quốc gia cho chúng ta biết, tại ngôi trường cổ kính này còn lưu giữ nhiều sách, thư án cũ, từ đầu thế kỷ XX. Nay ta vào vẫn thấy Phòng Ngọa Sào – tức nơi đích danh người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng đến đọc sách, nghiên cứu các tài liệu người Pháp đang có ở Đông Dương lúc đó, để mở mang nhận thức, khi về đây làm thầy giáo. Phòng Ngọa Sào trên căn gác gỗ, tuy nhỏ và hẹp so với nay, song từ hơn 110 năm trước, các căn phòng này đã là nơi sinh ra bao ý tưởng yêu nước cho những nhà nho trẻ, vừa đến dạy học tại ngôi trường có chí hướng tân tiến về cách dạy và học.        

    Học sinh những năm đầu thành lập, đến từ nhiều tỉnh ở Nam Trung Bộ, Nam Bộ ra khá đông, chia làm 4 lớp học. Năm cao nhất, trường có 102 học sinh, học từ lớp đệ nhất, đến đệ tứ, với các chương trình độc lập do trường mở. Tại trường, nay còn lưu lại những kỷ niệm về Người, khi từ Huế vào khoảng tháng 9 -10/1910, và Người đã lưu lại đây dạy học đến tháng 2/1911 khi vào Sài Gòn. Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy chữ Quốc ngữ và Hán văn, nhiều lúc thêm tiếng Pháp. Khi về đây, Người đề nghị các vị quản lý trường, mở môn thể dục – thể thao, và chính Người trực tiếp dạy học sinh môn học mới mẻ và hứng thú này cho các em. 

    Về lại thăm trường, bên dòng sông xanh, nhìn căn phòng cũ Bác từng ở, đọc sách, và những kỷ vật đã cũ, mà trước tháng 2 năm 1911, Người đã rèn luyện ý chí từ trang sách, tài liệu của trường, để rồi quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, mới thấy những kỷ vật đó thấm đẫm với Người lúc là thầy giáo dạy những học trò Nam bộ biết học chữ, tu chí làm người.

                       Nước Nam ta từ thời Hồng Lạc;

                       Mấy ngàn năm khai phá đến nay.

                      Á  Âu riêng một cõi này;

                      Giống vàng ta cũng xưa nay một loài.

                      Vuông mấy dặm, ba mươi mấy vạn;

                      Nào bạc vàng nhan nhản thiếu chi.

                      Đồng tươi, ruộng tốt tư bề;

                      Có điều lợi đất, ai bì được đâu![1]

           Mỗi khi cả lớp ca xong, thầy giáo mới rung chuông, các môn sinh mới được ngồi xuống bắt đầu buổi học. Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy ở trường mấy tháng, song học trò ai cũng quý mến với đức tính ham hiểu biết, gợi mở rộng ra các kiến thức khi truyền dạy nhiều môn học mà kiến thức những bài học từ lớp Nhất, đến đệ Tứ luôn được Thầy giáo Thành đưa lại sự hứng thú cho học sinh. 

    Trở về nơi Người đi tìm chân lý cho non sông, cho dân tộc Việt Nam

    Đầu năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành được cụ Trương Gia Mô giúp đỡ để đi vào Sài Gòn. Đầu tiên vào, ở tại căn nhà anh Lê Văn Đạt, ở xóm Rạch Bần, là số nhà 185/1 đường Cô Bắc – Quận 1 nay. Có một chi tiết, mà nay ta về thăm trường Dục Thanh, nhìn thấy bức ảnh của người đánh xe ngựa đưa Người ra ga xe lửa đi Sài Gòn – cụ Võ Văn Trang, một người chuyên được các nhân sĩ Liên Thành Thương Quán tin tưởng chuyên chở đi – về. Chính cụ là người đã đón thầy giáo Thành lúc từ Huế vào, và cũng là người đã đánh xe ngựa đưa thầy giáo Nguyễn ra ga xe lửa, vào Sài Gòn. Trong chuyến đi này, cụ Võ Văn Trang còn là người cất giữ 9 (chín) đồng bạc Đông Dương do chính thầy giáo Nguyễn Tất Thành gửi cụ, để trả bớt lại cho Liên Thành Thương Quán lúc chia tay Trường. Đó là một ngày tháng 2 năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành trước khi vào Sài Gòn.

    Bến Nhà Rồng – dấu mốc quan trọng của lịch sử Việt Nam. Ảnh TL

    Ông Nguyễn Quý Anh, phụ trách phân cuộc Liên Thành thương quán ở Sài Gòn, chỉ đạo ông Phạm Phú Hữu (cháu nội quan đại thần triều đình Huế Phạm Phú Thứ) chi 27 đồng bạc Đông Dương để trao cho Nguyễn Tất Thành làm lộ phí. Nhận tiền, Nguyễn Tất Thành do dự một hồi rồi chỉ nhận 18 đồng còn 9 đồng gửi lại. Thấy vậy, ông Võ Văn Trang với lòng xúc động và kính trọng đã nhận giữ và gửi trả lại bằng 9 đồng bạc giấy cho ông Phạm Phú Hữu nộp vào quỹ Liên Thành thương quán. Cũng từ tháng 5/1911 người cha của Người, cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, cũng đã từ quan Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định – giã từ chốn quan trường, cũng lên đường vào Nam.

    Lịch sử căn nhà số 5 Châu Văn Liêm, quận 5 nay vẫn còn ghi, sáng ngày 4/6 Người tạm biệt ngôi nhà này, để đến làm chân phụ thợ bếp cho tàu Đô đốc Latousestơrevila. Và sáng ngày 5/6/1911 đã đi vào lịch sử dân tộc ta, như một dấu ấn không bao giờ phai nhạt trong trái tim mỗi con người Việt Nam. Khi ra đi, Người chỉ có hai bàn tay trắng, hai bàn tay của lòng yêu nước, hai bàn tay con người lao động lầm than dưới hầm tàu, để vượt qua bao dông bão, vượt qua bao cám dỗ, vượt qua bao ngặt nghèo cảnh tù đày… nhằm để 30 năm mới mang về cho dân tộc con đường cứu nước chính đáng nhất.

    Cũng vào mùa Xuân sau đó 30 năm, vào tháng 2-1941 Người đã trở về Tổ quốc tại Fắk Bó – Cao Bằng, để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo toàn diện cuộc cách mạng cho dân tộc Việt Nam – đưa đến những chiến thắng sáng ngời của toàn dân tộc. Đó là, phải đánh đuổi cho được những tên đế quốc to, mạnh nhất thế giới xâm lược nước ta. Những đại thắng mùa Xuân vào năm 1954,1975, thực hiện thành công ước mơ, hoài bão của Người khi ra đi tìm đường cứu nước. Đó cũng là chân lý mà Người mang lại: Độc lập – Tự do – Bình đẳng – Bác ái cho toàn dân tộc, nhân dân ta./.  

    Thạc sĩ Phạm Bá Nhiễu (CTV)

    [1] - Trích trong: Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – Khu Di tích Đồng Tháp, 1990, Tr. 70 – 71

    Bạn đang xem bài viết Trung Tâm Y Tế Thành Phố Thuận An / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!