Xem Nhiều 2/2023 #️ Truyền Thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy # Top 11 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Truyền Thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Truyền Thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sau khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thần Kim Quy cho An Dương Vương một cái móng của mình để làm lẫy nỏ mà giữ thành. Theo lời thần dặn, nỏ có được cái lẫy làm bằng móng chân thần sẽ là chiếc nỏ bắn trăm phát trúng cả trăm, và chỉ một phát có thể giết hàng ngàn quân địch. An Dương Vương chọn trong đám gia thần được một người làm nỏ rất khéo tên là Cao Lỗ và giao cho Lỗ làm chiếc nỏ thần. Lỗ gắng sức trong nhiều ngày mới xong. Chiếc nỏ rất lớn và rất cứng, khác hẳn với những nỏ thường, phải tay lực sĩ mới giương nổi. An Dương Vương quý chiếc nỏ thần vô cùng, lúc nào cũng treo gần chỗ nằm.

Lúc bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần, quân Nam Hải bị giết hại rất nhiều nên Đà đành cố thủ đợi chờ thời cơ. Triệu Đà thấy dùng binh không lợi, bèn xin giảng hòa với An Dương Vương, sai con trai là Trọng Thuỷ sang cầu thân, nhưng chủ ý là tìm cách phá chiếc nỏ thần. Trong những ngày đi lại để giả kết tình hoà hiếu, Trọng Thuỷ được gặp Mỵ Châu, con gái yêu của An Dương Vương, một thiếu nữ mày ngài, mắt phượng, nhan sắc tuyệt trần. Trọng Thuỷ đem lòng yêu dấu Mỵ Châu, Mỵ Châu dần dần cũng xiêu lòng. Hai người trở nên thân thiết, không còn chỗ nào trong Loa thành mà Mỵ Châu không dẫn người yêu đến xem. An Dương Vương không nghi kỵ gì cả. Thấy đôi trẻ thương yêu nhau, vua liền gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.

Một đêm trăng sao vằng vặc, Mỵ Châu cùng Trọng Thuỷ ngồi trên phiến đá trắng giữa vườn, cùng nhau nhìn dãy tường thành cao nhất. Trong câu chuyện tỷ tê, Trọng Thuỷ hỏi vợ rằng: Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được? Mỵ Châu đáp: Có bí quyết gì đâu chàng, Âu Lạc đã có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần bắn một phát chết hàng nghìn quân địch, như thế còn có kẻ nào đánh nổi được? Trọng Thuỷ làm bộ ngạc nhiên, vờ như mới nghe nói đến nỏ thần lần đầu. Chàng ngỏ ý muốn xem chiếc nỏ. Mỵ Châu không ngần ngại, chạy ngay vào chỗ nằm của cha, lấy nỏ thần đem ra cho chồng xem. Nàng lại chỉ cho chàng biết cái lẫy vốn là chiếc móng chân thần Kim Quy và giảng cho Trọng Thuỷ cách bắn. Trọng Thuỷ chăm chú nghe, chăm chú nhìn cái lẫy, nhìn khuôn khổ cái nỏ hồi lâu, rồi đưa cho vợ cất đi. Hôm sau, Trọng Thủy xin phép An Dương Vương về thăm cha. Hắn thuật lại cho Triệu Đà biết về chiếc nỏ thần. Đà sai một gia nhân chuyên làm nỏ, chế một chiếc lẫy nỏ giống hệt của An Dương Vương. Lẫy giả làm xong, Trọng Thuỷ giấu vào trong áo, lại trở sang Âu Lạc. An Dương Vương vốn chiều con gái, thấy con mỗi khi gặp chồng thì vui vẻ sung sướng, liền sai gia nhân bày tiệc rượu để ba cha con cùng vui. Trọng Thuỷ uống cầm chừng, còn An Dương Vương và Mỵ Châu say tuý luý. Thừa lúc bố vợ say, Trọng Thuỷ lẻn ngay vào phòng tháo lấy cái lẫy bằng móng chân thần Kim Quy và thay cái lẫy giả bằng móng rùa thường vào.

Hôm sau, thấy chồng có vẻ bồn chồn, hết đứng lại ngồi không yên, Mỵ Châu hỏi chồng rằng: Chàng như có gì lo lắng phải không? Trọng Thuỷ đáp: Ta sắp phải đi, Phụ vương dặn phải về ngay để còn lên miền Bắc, miền Bắc xa lắm nàng ạ. Mỵ Châu buồn rầu lặng thinh, Trọng Thuỷ nói tiếp: Bây giờ đôi ta sắp phải xa nhau, không biết đến bao giờ gặp lại! Nếu chẳng may xảy ra binh đao, tôi biết đâu mà tìm? Mỵ Châu nói: Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy về hướng nào thì thiếp sẽ rắc lông ngỗng dọc đường, chàng cứ chạy theo dấu lông ngỗng mà tìm. Nói xong Mỵ Châu nức nở khóc.

Về đất Nam Hải, Trọng Thuỷ đưa cái móng rùa vàng cho cha, Triệu Đà mừng rỡ vô cùng, reo lên rằng: “Phen này đất Âu Lạc sẽ về tay ta”. Chỉ ít ngày sau, Triệu Đà đã ra lệnh cất quân sang đánh Âu Lạc. Nghe tin báo, An Dương Vương cậy có nỏ thần, không phòng bị gì cả. Đến khi quân giặc đã đến sát chân thành, An Dương Vương sai đem nỏ thần ra bắn thì không thấy linh nghiệm nữa. Quân Triệu Đà phá cửa thành, ùa vào. An Dương Vương vội lên ngựa, đèo Mỵ Châu sau lưng, phi ngựa thoát ra cửa sau. Ngồi sau lưng cha, Mỵ Châu bứt lông ngỗng ở áo rắc khắp dọc đường. Đường núi gập ghềnh hiểm trở, ngựa chạy luôn mấy ngày đêm đến Dạ Sơn gần bờ biển. Hai cha con định xuống ngựa ngồi nghỉ thì quân giặc đã gần đến. Thấy đường núi quanh co dốc ngược, bóng chiều đã xuống, không còn lối nào chạy, An Dương Vương liền hướng ra biến, khấn thần Kim Quy phù hộ cho mình. Vua vừa khấn xong thì một cơn gió lốc cát bụi bốc lên mù mịt, làm rung chuyển cả núi rừng. Thần Kim Quy xuất hiện, bảo An Dương Vương rằng “giặc ở sau lưng nhà vua đấy”. An Dương Vương tỉnh ngộ, liền rút gươm chém Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biểu tự vẫn.

Quân của Triệu Đà kéo vào chiếm đóng Loa thành, còn Trọng Thuỷ một mình một ngựa theo dấu lông ngỗng đi tìm Mỵ Châu. Đến gần bờ biển, thấy xác vợ nằm trên đám cỏ, tuy chết mà nhan sắc không mờ phai. Trọng Thuỷ khóc oà lên, thu nhặt thi hài đem về chôn trong thành, rồi đâm đầu xuống giếng trong thành mà xưa kia Mỵ Châu thường tắm. Ngày nay, ở làng cổ Loa, trước đền thờ An Dương Vương, còn cái giếng gọi là giếng Trọng Thuỷ. Tục truyền khi Mỵ Châu đã bị cha giết chết rồi, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn được nên mới có ngọc châu. Lấy được ngọc trai ấy đem về rửa bằng nước giếng trong thành Cổ Loa thì ngọc trong sáng vô cùng.

Nguồn: Sưu tầm

Truyền Thuyết Về Sơn Tinh – Thủy Tinh

Trai tráng khắp nơi nô nức kéo về kinh đô thi tài. Đã mấy ngày qua, biết bao nhiêu chàng trai tuấn tú, võ nghệ tài ba lần lượt ra trổ tài, nhưng vẫn chưa được nhà vua ưng chọn. Nhà vua đã hơi thất vọng thì bỗng nhiên có hai người cùng một lúc tiến vào xin thi tài, một người tên là Sơn Tinh, còn người kia tên là Thủy Tinh. Một người ở vùng núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi cao. Nhân dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh. Còn một người ở mãi tận miền biển Đông tài giỏi cũng không kém: gọi gió gió đến, hò mưa tới – Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.

Một người là chúa của những miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều rất xứng đáng làm rể vua Hùng cả. Vua Hùng Vương lúc này băn khoăn không biết nên nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho mời các quan lạc hầu vào bàn mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, vua Hùng Vương phán rằng:

– Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, không biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì sẽ được rước dâu về.

Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước và được phép đưa dâu về núi. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ đã đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mỵ Nương.

Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm thành dông bão đùng đùng rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng rồi ngập nhà, ngập cửa.

Sơn Tinh lúc đó không hề nao núng, dùng phép màu bốc từng quả đồi, di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.

Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh lại không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh và lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải bỏ chạy.

Sơn Tinh từ đó được nhân dân tôn là một trong bốn vị tứ bất tử của dân tộc.

Xem video truyện cổ tích Sơn Tinh, Thuỷ Tinh

Thơ Về Cổ Loa, An Dương Vương Và Mỵ Châu

Thơ về Cổ Loa, An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy

Bạn đã đọc bài trước phân tích về Truyền thuyết An Dương Vương và mối tình oan trái Mỵ Châu -Trọng Thủy. Vậy xin mời bạn thưởng thức một số áng văn thơ đề cập đến truyền thuyết này do Phan Duy Kha sưu tầm và giới thiệu.

*

THƠ CHỮ HÁN Vũ Phạm Hàm

Lân bảng phi thân tế bất sàn

Quân vương dung dị ngộ hồng nhan

Tồn vong mịnh hệ Linh quang nỗ

Sinh tử hồn y Mộ Dạ sơn

Nam hải yên đào châu tích lệ

Bắc lâm phong vũ thạnh thành ban

Chí kim từ vũ lân nguyên miếu

Nguyệt xuất do văn hưởng bội hoàn.

Người thân thích ít, rể khôn lường

Lầm lỡ má hồng bởi phụ vương

Sống chết hồn nương đồi Mộ Dạ

Mất còn mệnh hệ nỏ Linh quang

Bể Nam khói sóng châu hoen lệ

Rừng Bắc phong sương đá lổ loang

Đền miếu tới nay bên điện cũ

Trăng lên khánh ngọc vẫn còn vang.

Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ dịch

*

Lê Huy Phan

Vận tiếp Hồng Bàng thái cổ thiên

Dư đồ vạn lý Thục sơn xuyên

Loa thành nhân hiểm nan di đỉnh

Quy nỗ thần cơ bất cập tiên

Giao cách sự phi do nữ tế

Hưng vong số hữu định thần tiên

Linh phong mỹ tích kim trường tại

Sử luận hoang đường khủng vị nhiên.

Kế tiếp Hồng Bàng vận tại thiên

Nước non vạn dặm đất Thục liền

Loa Thành hiểm yếu đâu thần phục

Móng rùa thần nỗ lắm cái phiền

Sự việc xưa kia do ai nhỉ ?

Hưng vong số định bởi thần tiên

Khí thiêng dấu cũ nay còn đó

Sử luận hoang đường quả dĩ nhiên.

*

Vũ Tuân

Đương dương vạn mã đảo thành âm

Nam hải văn tê bạch trú trầm

Quy trảo dĩ tùy khinh bạc tế

Nga mao thụy lượng nữ nhị tâm

Hà sơn hữu lệ minh châu kết

Oan trái nan điền cổ tỉnh thâm

Đôn phách trinh hồn chung bất tử

Quế kỳ phong vũ dạ tiêu sâm.

Ngựa lướt vầng dương thành sẩm tối

Sừng tê rẽ nước giữa ban ngày

Móng rùa mưu rể đem đi mất

Lông ngỗng lòng con ai biết đây

Sông núi lệ tuôn trai ngọc kết

Oan khiên khôn lấp giếng xưa đầy

Phách hồn trinh trắng còn không mất

Cờ quế đêm mưa gió lắt lay.

Nguyễn Huệ Chi dịch

*

Bùi Phu Kinh (Họa bài thơ của Vũ Phạm Hàm)

Ông thị hiền vương vị thị sàn

Gian hùng nữ tế thái vô nhan

Thiếp tư báo đức đồng thiên địa

Lang nhẫn vong tình phụ hải san

Quy nỗ thu quang sơn tuyệt mộ,

Bạng châu sải lệ tỉnh lưu ban

Đội lân tịch mịch đình biên miếu

Dạ nguyệt thê lương cổ lũy hoàn

Nhạc phụ vua hiền đâu phải dại

Gian hùng chàng rể quá vô tình

Thiếp mong báo đức ngang trời đất

Chàng nỡ quên ơn phụ thệ minh

Nỏ báu mất thiêng non vắng mộ

Hạt trai tưới lệ giếng lưu hình

Bên đình tòa miếu thiêng mờ mịt

Lạnh lẽo trăng đêm quyện cổ thành.

Nguyễn Huệ Chi dịch

*

Lang quân tình trọng, phụ ân thâm

Bất bạch kỳ oan, hận đáo câm

Trường trảo vô linh quy diệc khứ

Minh châu hữu lệ bạng do trầm

Hoang bi cổ mộc thiên niên quốc

Bích hải thanh thiên nhất phiến tâm

Tịch mịch An Dương cung ngoại miếu

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt âm âm.

Tình chàng dù nặng , nghĩa cha sâu

Ôm ấp oan kia đến tận đâu.

Nỏ thiếu móng thiêng, rùa lẩn bóng

Trai chìm đáy nước , lệ hoen châu.

Bia mòn cây cỗi, ngàn thu hận

Bể biếc trời xa một mối sầu.

Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt

Trăng mờ khắc khoải cuốc kêu thâu.

Nguyễn Tường Phượng dịch.

*

Sở Cuồng Lê Dư Vịnh An Dương Vương

Ngã nguyên vô trá, nhĩ vô ngu

Vị giám tiền xa thỉ nữ ngô

Chỉ niệm bắc nam đôn quốc hảo

Thục tri tế tử sính gian đồ

Hà sơn đa cố quy vô trảo

Cốt nhục thương tâm bạng hữu châu

Hoa miếu thiên thu công luận tại

Tín trung trường thống nữ vô cô.

Dịch nghĩa: Ta không dối người mà cũng không phòng bị

Làm cái gương xe đổ về việc gả con sang Tàu

Chỉ muốn bắc nam được thuận hòa

Đâu ngờ rẻ kia là kẻ gian tế

Non sông mấy đỗi rùa không móng

Cốt nhục đau lòng trai ngậm châu

Công luận ngàn năm còn vẳng bên miếu

Con gái thành thật không lỗi lầm mà phải mang nỗi xót xa này.

Vịnh Mỵ Châu công chúa

Thâm cung sinh trưởng quán kiều si

Thế thái ba đào kỷ đắc tri

Kỳ vị ái ân nghi tế thiểu

Cánh giao trung tín bỉ lang khi

Châu trầm ngọc vẫn tâm câu toái

Quốc phá gia phong hối diệc trì

Thiên cổ Loa Thành di hận tại

Hồn oanh hoa biểu hạt thăng bi.

Dịch nghĩa: Nàng ngây thơ lớn lên trong cung cấm

Việc đời lắm sóng gió làm sao mà biết được

Vui vẻ ái ân nào có để dạ nghi chồng

Bởi quá thật thà mà bị lừa dối

Châu chìm ngọc rơi cõi lòng tan nát

Nước mất nhà tan hối có kịp đâu

Loa Thành ngàn năm còn vương nỗi hận

Hồn vấn vương bia mộ, sầu kể sao nguôi.

( Hai bài thơ của Sở Cuồng Lê Dư chỉ mới thấy dịch nghĩa, chưa tìm thấy bản dịch thơ, tạm bằng lòng vậy)

*

THƠ QUỐC ÂM Thành Cổ Loa

Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa

Trải bao gió táp với mưa sa

Nỏ thiêng hờ hững dây oan buộc

Giếng Ngọc vơi đầy hạt lệ pha

Cây cỏ vẫn cười ai bạc mệnh

Cung đình chưa sạch bụi phồn hoa

Hưng vong biết chửa, người kim cổ

Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà.

Á Nam Trần Tuấn Khải

*

Đề miếu Mỵ Châu

Một khối oan tình đập chửa tan

Nghìn thu hiu hắt khói hương tàn

Bia mòn rêu biếc, ngàn mây phủ

Nỏ đó người đâu giếng nước tràn

Tần Tấn bởi tin phường bạch nhãn

Việt Ngô để lụy khách hồng nhan

Cơ trời dâu bể vì ai đấy

Riêng mỗi thơ đào mắc tiếng oan.

Nguyễn Trung Khuyến

*

Loa Thành hoài cổ

Trông cảnh Tư Long luống ngậm ngùi

Nỏ rùa chuyện cũ, phải hay sai

Hình thành sao khéo xoay trôn ốc

Nước giếng nay còn sáng ngọc trai

Trừ bại ma gà nhờ có thuật

Mắc mưu lông ngỗng vị thương ai

Bể nam sóng gió mê đường ngựa

Đà cuống tin chi, hối chậm rồi.

Nguyễn Văn Đào

*

Mỵ Châu -Trọng Thủy

Một đôi kẻ Việt người Tần

Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương

Vuốt rùa chàng đổi máy

Lông ngỗng thiếp đưa đường

Thề nguyền phu phụ

Lòng nhi nữ

Việc quân vương

Nệm gấm vó câu

Trăm năm giọt lệ

Nghìn thu khói hương. . .

Tản Đà

*

Tâm sự

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ, để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

Tố Hữu (Trích bài thơ Tâm sự)

*

Mị Châu Lông ngỗng lông ngan rơi trắng đường chạy nạn Những chiếc lông không biết tự dấu mình.

Nước mắt thành mặt trái của lòng tin Tình yêu đến cùng đường là cái chết Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp Tình yêu bị dối lừa vẫn nguyên vẹn tình yêu.

Giá như như trên đời còn có một Mỵ Châu Vừa say đắm yêu thương vừa luôn luôn cảnh giác Không sơ hở, chẳng mắc lừa mẹo giặc Một Mỵ Châu như ta vẫn hằng mơ

Thì hẳn Mỵ Châu không sống đến bây giờ Ðể chung thuỷ với tình yêu hai ngàn năm có lẻ Như anh với em dẫu yêu nhau chung thuỷ Ðến bạc đầu bất quá chỉ trăm năm.

Nên chúng ta dù rất đỗi đau lòng Vẫn không thể cứu Mỵ Châu khỏi chết Lũ trai biển sẽ thay người nuôi tiếp Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu.

Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu Bởi cụt đầu nên tượng càng rất sống Cái đầu cụt gợi nhớ dòng màu nóng Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào.

Anh cũng như em muốn nhắc Mỵ Châu Ðời còn giặc xin đừng quên cảnh giác Nhưng nhắc sao được người hai ngàn năm trước Nên em ơi ta đành tự nhắc mình.Anh Ngọc

*

Vô đề

Am Mỵ Châu thờ bức tượng không đầu

Cảnh báo một trái tim khờ dại

Thử hỏi , nửa thế giới này đang tồn tại

Đã yêu rồi, ai không giống Mỵ Châu ?

Hạnh Mai

(Tạp chí Người Hà Nội, số 115)

*

MỴ CHÂU

Không thể tưởng có đường gươm như thế

Dù lời thần mách bảo tự trời cao

Thần có lúc cũng nhầm như hạ giới

Đứa con thương tội lỗi tự khi nào?

.

Khi ngực trẻ hồn nhiên non nớt quá

Thì tình yêu có phút dại khờ thôi

Nắm lông ngỗng rải đường hoa trắng xóa

Hoa theo nàng rải khắp nắng mồ côi.

.

An Dương Vương dưới đáy mồ nghìn tuổi

Vẫn hằng đêm nức nở lưỡi gươm xưa

Mây vẫn trắng để tang trời vĩnh cửu

Mỵ Châu ơi, oan nghiệt đến bao giờ ?

Quang Huy

( Hà Nội mới cuối tuần,10.3.2012)

*

Ảnh trong bài

1. 2 : Lẫy nỏ và kho mũi tên đồng đào được ở Cổ Loa

3: Tượng không đầu Công chúa Mỵ Châu

Entry filed under: Uncategorized.

Truyền Thuyết Mai An Tiêm

Truyền thuyết Mai An Tiêm – Sự tích dưa hấu

Nhiều năm về trước, vào thời Hùng Vương, đất nước ta rất trù phú và rộng lớn với những ngọn núi cao tới 9 tầng mây, những con sông rộng mênh mông và những khu rừng bạt ngàn với rất nhiều các loài cây và muông thú.

Ở thời đó ruộng đồng vẫn còn rất thưa thớt và các loại cây cho trái ngon, quả ngọt chưa được phong phú như thời bây giờ vì mọi người vẫn chưa khám phá ra hết để mang về trồng.

Vua Hùng Vương thứ 17 có nuôi một người con nuôi tên là Mai An Tiêm. An Tiêm rất tháo vát và đặc biệt là có trí thông minh hơn người. Vua Hùng rất yêu quý An Tiêm nên khi có của ngon vật quý là vua hay ban cho An Tiêm.

An Tiêm rất thẳng tính, và chính sự thẳng tính đó đã gây nguy hại tới chàng. Theo thói đời thì vua thường rất thích nịnh, khi các quan trong triều được nhà vua ban thưởng cho một chút bổng lộc nào đó thì tấm tắc khen vua hết lời này đến lời khác. Nhưng An Tiêm lại khác, nhận được bổng lộc vua ban thì An Tiêm thường bảo: “Của được biếu là của phải lo, của được cho là của phải nợ” và xem thường những thứ đó. Không ngờ câu nói đó của An Tiêm lọt đến tai Vua.

Vua khi biết đã nổi giận lôi đình và ra lệnh cho quân lính đầy cả gia đình Mai An Tiêm ra đảo hoang ở ngoài biển khơi. An Tiêm và vợ con của chàng được áp tải xuống một chiếc thuyền buồm và bị đầy ra ngoài biển khơi trong khi không có một chút hành lí mà chỉ được mang theo một chiếc gươm nhỏ để phòng thân. Con thuyền xa dần xa dần bờ và chồng chềnh giữa biển khơi mênh mông.

Đến ngày hôm sau, con thuyền cập bến vào một hòn đảo hoang không một bóng người. Quân lính đưa cho gia đình An Tiêm số lương thực chỉ đủ dùng cho 5 ngày, và một chiếc nồi nhỏ để nấu cơm. Sau đó quân lính quay thuyền trở về bờ và bỏ lại gia đình của An Tiêm trên hòn đảo hoang. Nàng Ba, người vợ của An Tiêm bế đứa con nhỏ trên tay, mắt hướng theo chiếc thuyền càng ngày càng khuất dần và mất hẳn. Nàng khóc và sợ, sợ rằng sẽ sống ra sao trên hòn đảo hoang này khi 5 ngày nữa là lượng lương thực sẽ hết và khi đó sẽ không còn gì để ăn, không còn gì để uống.

An Tiêm an ủi vợ và dắt vợ con tìm một hốc đá để ở tạm. Sau đó chàng lên đường với chiếc gươm nhỏ đi xung quanh hòn đảo hoang để thăm dò.

Quả thật hòn đảo này rất hoang vu và không có một bóng người, chắc chưa từng có người nào đặt chân lên hòn đảo. Trên đảo chỉ có chút cây cỏ mọc lơ thơ và vài loài chim biển sinh sống. Chàng tìm kiếm mãi mới tìm được chút quả dại chua chát và chút rau dại để ăn tạm qua ngày.

Kể từ khi đó, hàng ngày An Tiêm đi khắp con đảo tìm những loại rau rừng để trồng, kiếm quả rừng để ăn. Nàng Ba, vợ An Tiêm thì ra biển kiếm ngao kiếm ốc. Đứa con lớn được chàng dạy cho cách làm bẫy bắt chim, nhưng rồi dần dần lũ chim cũng đề phòng nên có những ngày thằng bé không bẫy được con chim nào.

Mặc dù cá rất nhiều nhưng An Tiêm không có lưới để bắt, quả thì cũng có mùa. Chính vì vậy cả gia đình An Tiêm vẫn chủ yếu sống qua ngày đoạn tháng bằng những thứ rau dại mang về trồng trong vườn. Cuộc đời của cả 4 người rất khốn khó và lao đao. Tuy muôn vàn khó nhọc nhưng An Tiêm vẫn nuôi trong mình một hy vọng rồi sẽ có ngày cuộc sống sẽ khấm khá lên.

Một hôm đang trong lúc đi kiếm rau rừng thì An Tiêm thấy một con chim đang ăn một quả gì đó, thấy An Tiêm nó sợ nên đã vội vã bay đi, để lại một miếng mồi đo đỏ. An Tiêm cầm lên xem thì đó là một quả dưa rất lạ chưa từng thấy bao giờ, nó to bằng hai ngón tay người. Chàng nghĩ thầm trong bụng: “Chim ăn được thì chắc người cũng sẽ ăn được”. Chàng nếm thử một chút thì thấy có vị ngọt ngọt rất dịu. Chàng ăn hết miếng dưa cho đỡ khát rồi gom toàn bộ số hạt lại để mang về gieo trồng.

Ít ngày sau, hạt dưa đã trồi mầm đâm lá, thân dây dưa tỏa ra bò khắp một khoảnh vườn. Nàng Ba vợ An Tiêm cũng phụ giúp chồng ngày ngày chăm sóc giống dưa lạ. Vợ chồng An Tiêm hồi hộp trông thấy vài bông hoa đầu hé nở, một thời gian sau hoa kết trái. Lúc đầu quả chỉ bằng ngón tay út nhưng mấy ngày hôm sau nó đã to như con chuột, một thời gian ngắn sau nó đã vổng như con lợn con. Thấy nó cứ lớn cứ lớn nên An Tiêm cũng không rõ khi nào có thể hái quả vì đây là giống dưa lạ chàng chưa thấy bao giờ.

Một sớm tinh mơ, khi đang trong giấc ngủ thì nàng Ba nghe thấy tiếng quạ kêu ngoài vườn. Nàng thấy sự lạ nên đã gọi chồng dậy và bảo:

– Ở đây là nơi hoang vắng, sao lũ quạ lại tụ họp ở đây nhỉ, chắc có chuyện gì ngoài kia, anh ra xem sự thể có chuyện gì!

An Tiêm ra đến vườn thì đàn quạ bay đi, chúng bỏ lại một quả dưa mà chúng đang ăn dở bị mổ thủng lỗ trỗ. An Tiêm thấy vậy bèn lấy dao cắt dưa mang về. Khi bổ dưa ra, cả nhà ngạc nhiên vì màu đỏ tươi của ruột dưa, lẫn trong đó là những hạt đen nhánh như hạt huyền. Bọc ngoài là một lớp vỏ trắng viền xanh. Để cẩn thận vì là giống dưa lạ, An Tiêm cắt thử cho mỗi người một mảnh nhỏ để ăn thử, lũ trẻ ăn xong khen ngợi quả rất ngọt, vị ngọt thanh mát, mùi thơm rất dịu của quả lạ, ăn vào thấy đỡ khát và còn khỏe hẳn ra. Thấy quả ăn được, An Tiêm mạnh dạn bổ nốt số dưa còn lại cho cả nhà ngồi ăn.

Cũng nhờ lũ quạ mà An Tiêm mới biết đến khi nào thì có thể thu hoạch quả, cả nhà mừng rỡ rồng rắn nhau ra vường để hái dưa đem về. Còn lại những qua chưa chín thì cả nhà thay phiên nhau canh quả, tránh cho lũ quạ lại tới ăn.

Với tài năng chăm bón của mình, vườn dưa nhà An Tiêm càng ngày càng sai trái, thịt quả càng thêm dày, vỏ mỏng dần đi, vị ngọt càng thanh và dịu hơn. Cứ mỗi lần hái trái, An Tiêm lại khắc đánh dấu lên quả rồi thả ra biển mong chờ có một ngày có một chiếc thuyền buôn gặp được dưa trôi thì An Tiêm sẽ dùng dưa để đổi lấy thức ăn và lúa gạo.

Quả nhiên, một hôm có một chiếc thuyền buôn đi ngang qua, thấy giống dưa lạ ăn rất ngon. Chủ thuyền ngỏ ý muốn mua dưa đem bán trên đất liền. Kể từ đó, gia đình nhà An Tiêm đã có thêm thức ăn lương thực, cuộc sống cũng đã khấm khá hơn trước kia.

Về phần Vua Hùng, từ ngày đầy cả gia đình An Tiêm ra đảo hoang, vua luôn nghĩ rằng An Tiêm đã chết rồi, đôi khi nghĩ tới vua cũng bùi ngùi thương xót. Cho đến một ngày, được thị thần dâng lên quả dưa lạ, vua ăn thấy rất ngon miệng bèn hỏi xem ai đã trồng ra giống dưa này. Biết được An Tiêm trồng, vua rất vui mừng cho quan lính đem thuyền ra đón cả gia đình An Tiêm trở về nhà. An Tiêm rất mừng rỡ, thu lượm hết những quả dưa chín đem về tặng cho bà con lối xóm. Còn một số quả An Tiêm giữ lại lấy hạt để gieo trồng. Đó chính là nguồn gốc giống dưa hấu mà chúng ta vẫn ăn ngày nay.

Về sau khắp nước ta đều có giống dưa hấu. Nhưng người ta nói chỉ có huyện Nga Sơn là trồng được những quả ngon hơn cả, vì nơi ấy xa là hòn đảo An Tiêm ở, trải qua mấy nghìn năm nước cạn, cát bồi nay đã liền vào với đất.

Bạn đang xem bài viết Truyền Thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!