Xem Nhiều 12/2022 #️ Văn Học Dân Gian Thời Covid / 2023 # Top 18 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Văn Học Dân Gian Thời Covid / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Học Dân Gian Thời Covid / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong đó, nhại hịch (Hịch toàn quốc kháng dịch Covid-19). Nhại lý lịch trích ngang (Lý lịch trích ngang của em Vy). Nhại dân ca quan họ (bài Còn duyên, Kyo York ca sĩ người Mỹ hát). Nhại hề chèo (bài khoảng 50 câu): Loa, loa, loa, loa/ Chiềng làng chiềng chạ/ Thượng hạ tây đông/ Phụ nữ đàn ông/ Đồng lòng chống dịch/ Tạm dừng sở thích/ Đừng đi du lịch/ Hãy ở một nơi/ Đừng ra khỏi ngõ/ Ở đâu yên đó/ Đừng có đi xa/ Vi rút cô na/ Vô nhà thì khốn… Nhại thần chú: Nam mô cô rô na/ Xa ta ra/ Xa thiệt xa/ Xa bà ra… Nhại bài khấn trong nghi lễ thờ cúng (bài khoảng 50 câu): Cẩn tấu… Cẩn cẩn tấu!/ Con lạy chín phương trời/ Con lạy mười phương đất/ Con lạy chư vị mười phương/ Con lạy từ biên cương/ Con lạy ra hải đảo/ Con lạy thần cảnh báo/ Con lạy chúa đừng lây/ Lạy từ Đông sang Tây/ Tao lạy mày Covid/ Này cái đồ chết tiệt/ Sao dám đến Việt Nam/ Từ Trung Quốc tràn sang/ Rồi lang thang nước Nhật/ Mày hành khất nước Hàn/ Gây hoảng loạn Iran/ Làm điêu tàn nước Ý/ Lại tàn sát nước Mỹ…

Có thể nói, tính thời sự là một đặc điểm của văn học dân gian đương đại nói chung và văn học dân gian thời Covid (chữ dùng của T.T.T) nói riêng.

Áp sát cuộc sống, những tác phẩm văn học dân gian đã phản ánh một cách vô cùng sinh động bức tranh toàn cảnh của xã hội thời Covid với những nỗi lo trĩu nặng (Nghe tiếng ho lo hơn nghe tiếng súng). Nhịp điệu sống bỗng như chậm lại, nhu cầu con người trở nên tối giản: Chẳng mong sung sướng cao sang/ Chỉ mong cuộc sống bình an mỗi ngày.

Văn học dân gian cũng cho thấy sự nhanh nhạy (Vạn sự như Lào), tài ứng phó, cách tư duy, bản lĩnh, kinh nghiệm ứng xử của một dân tộc luôn phải đối diện với chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh: Tiếng hát át tiếng ho; Chống giặc thì phải xông pha/ Chống dịch thì phải ngồi nhà nhớ không?

Bao trùm trong toàn bộ văn học dân gian thời Covid là tinh thần chống dịch như chống giặc. Tin tưởng vào chủ trương sáng suốt của Đảng và Chính phủ, đặt quyền lợi cộng đồng lên trên hết, toàn dân một ý chí cùng nhau quyết tâm vượt qua đại dịch; chung sức, đồng lòng, nguyện sẻ chia khó khăn với những người ở tuyến đầu chống dịch: Thương Chính phủ, thương ngành y/ Thương người lính chống cô vi đêm ngày/ Chúng ta cố gắng chung tay/ Chớ quên phòng dịch ở ngay trong nhà.

Rõ ràng, nhờ phát huy tối đa sức mạnh của một sân chơi văn hóa mang tính dân chủ cao, nhờ biết tận dụng được ưu thế của công nghệ hiện đại, văn học dân gian đã nhanh chóng trở thành một kênh truyền thông ích dụng, hấp dẫn với những đóng góp độc đáo và hiệu quả cho chiến dịch chống dịch Covid hôm nay.

Nếu trước đây Miệng thế gian như làn sóng bể thì giờ đây những tác phẩm văn học dân gian mộc mạc được ra đời trên cơ sở của quan niệm mỹ học cái đẹp nằm trong cái giản dị vẫn đang góp phần không nhỏ vào việc chuyển tải kịp thời những nội dung quan trọng: chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ, những kịch bản và biện pháp phòng chống dịch của ngành y tế bằng một cách thật gần gũi, tự nhiên nên dễ dàng thấm sâu vào mọi tầng lớp nhân dân: Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Đang ở chỗ nào ngồi nguyên chỗ đó; Hỡi quốc dân, hỡi đồng bào/ Yêu nước xin chớ đi vào đi ra/ Yêu nước xin hãy ở nhà/ Khẩu trang sát khuẩn nhắc ta nhắc mình; Muốn cho Covid tránh xa/ Xin hãy ở nhà đừng có ham vui…

Mặt khác, do tận dụng thời gian rảnh rỗi, lực lượng trí thức có nhiều điều kiện để tham gia vào quá trình sáng tạo và tiếp nhận vì thế văn học dân gian đã phát triển nhanh hơn cả về số lượng và chất lượng; chất trí tuệ, chất hài không ngừng được gia tăng.

Riêng cái tên Covid viết tắt, sang tiếng Việt đã được cắt nghĩa một cách đầy sáng tạo: COVID = Cắt giảm chi tiêu + Ổn định cuộc sống + Vệ sinh sạch sẽ + Ít tụ tập + Đầu tư sức khỏe và trí tuệ.

Còn truyện cười Nước nào thoát được tử thần lại cho thấy cơ sở và niềm tin vững chắc sẽ chiến thắng đại dịch của dân tộc chúng ta. Truyện kể rằng:

Một con tàu đi trên đại dương giữa lúc sóng to gió lớn, có nguy cơ bị đắm. Mọi hành khách hoảng sợ kêu cứu. Tử thần hiện lên và nói:

– Các ngươi nghe đây. Nếu kẻ nào ném vật gì đó xuống biển mà ta không thể tìm thấy thì kẻ đó sẽ được sống.

Hành khách người Ý ném chiếc kim xuống biển. Thần nhanh chóng tìm thấy. Hành khách người Ý phải chết.

Hành khách người Mỹ ném xuống biển sợi tóc. Thần cũng tìm thấy ngay. Hành khách người Mỹ không được cứu.

Hành khách người Trung Quốc ném tay không. Thần phát hiện phạm luật nên không thể không chết.

Hành khách người Việt bình tĩnh ném một vật khá to hình tròn xuống nước. Thần lặn xuống mò mãi, mò mãi vẫn không thấy, bèn hỏi:

– Mày vừa ném gì vậy?

– Tôi ném viên C sủi.

– Siêu quá! Tao chịu mày!

Thế là như tử thần đã hứa, hành khách người Việt được thoát tử.

Điều cần bàn là cách chuyển tải những nội dung mang tính thời sự, thiết thực cho chiến dịch chống Covid của văn học dân gian rất độc đáo: hài và hóm, sinh động và ích dụng. So với văn học dân gian cổ truyền, nội dung của nó thu hẹp lại rất nhiều. Phần vì đã có các phương tiện truyền thông khác đảm đương, phần vì tại thời điểm nước sôi lửa bỏng này bộ phận văn học dân gian chỉ tập trung vào nhiệm vụ phòng chống dịch. Dĩ nhiên, do tính thời sự và một số lý do khác nên văn học dân gian thời Covid chưa thể có được sự thông tuệ và minh triết của văn học dân gian trước Cách mạng Tháng Tám. Còn văn học dân gian trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giàu tính sử thi nên nghiêm trang và thiếu cái hài. So với văn học dân gian thời kỳ Đổi mới (sau 1986), tiếng cười hôm nay ít có ý nghĩa trào phúng, ít nhằm mục đích phê phán. Những truyện cười như Nói sau lưng (cười thói xấu nói sau lưng của nhiều người Việt) là rất hiếm hoi.

Nhìn chung tiếng cười trong văn học dân gian thời Covid nghiêng về tính giải trí, nhằm giúp con người giảm stress, giảm bớt áp lực khi phải đối diện với đại dịch đáng sợ: Phát xít như con Covid (thành ngữ), Đứa nào tính trốn cách ly/ Bà cho một phát, hết đi hết bò (ca dao), Nhầm vợ (truyện cười)… Khá nhiều tiếng cười khôi hài kiểu nói vần vè: Tôi là Lê Phương Liên/ Tôi vẫn sống bình yên/ Ăn vừa và ngủ đủ/ Tinh thần vẫn vô biên… Hay Tôi là Sường/ Năm trên giường/ Không ra đường/ Miễn lên phường… Hay trong truyện cười Nhầm vợ: Một anh chồng chở vợ ra siêu thị mua đồ. Giữa thời Covid ai cũng đeo khẩu trang kín mít. Lúc lâu sau thấy một người phụ nữ khệ nệ xách hàng ra và nhảy lên ngồi sau xe mình, người chồng nọ bèn nổ ga phóng ngay về nhà. Đến khi dừng xe cả hai mới biết là họ đã bé cái nhầm.

Cũng đã có những cái cười hóm hỉnh, tinh quái, ỡm ờ được gợi từ một yếu tố thanh thanh tục tục nào đó: Chưa đi chưa biết Vân Đồn/ Đi thì phải nhớ dùng cồn mà xoa/ Những nơi lắm bướm nhiều hoa/ Nhớ mang một lọ mà xoa cái cồn/ Nhà văn dấp dính tâm hồn/ Chỗ nào cũng nhớ dùng cồn mà xoa.

Song có thể nói, giọng điệu chủ âm của văn học dân gian thời Covid là khẳng định ngợi ca, là tiếng nói của mặt trận kêu gọi toàn dân đoàn kết tương thân tương ái yêu thương thiêng liêng hai tiếng đồng bào: Một yêu đừng có ra ngoài/ Hai yêu đừng có rủ ai vào nhà/ Ba yêu tỉa lá chăm hoa/ Bốn yêu giữ dáng điệu đà như xưa/ (…)/ Mười yêu biết sống thảnh thơi mỗi ngày.

Qua khảo sát sơ bộ, chúng tôi thấy, đóng góp của văn học dân gian cho cuộc sống thời Covid độc đáo, thú vị và không phải không quan trọng. Công đầu thuộc các tác giả lớn tuổi, những người từng trải có đủ bản lĩnh, bình tĩnh đón nhận và dám mỉm cười trước những thử thách cam go. Lối nói tếu táo nhí nha nhí nhố của lũ tuổi teen đáng yêu kiểu phê như con tê tê, đen như que kem, đỏ như cây cơ không được bôi lơ… cách đây không lâu đã từng xuất hiện như nấm trên mạng xã hội, giờ có vẻ như thưa thớt.

(vannghequandoi.com.vn)

Văn Học Dân Gian Quảng Trị / 2023

Quảng Trị là một vùng đất giàu có vốn văn hoá phi vật thể, trong đó văn học dân gian có vị trí hết sức đặc biệt. Văn học dân gian Quảng Trị là sản phẩm chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dòng văn học truyền khẩu.

Xét giá trị nội dung và nghệ thuật, văn học dân gian Quảng Trị có những nét riêng, đóng góp cho văn học dân gian Việt Nam thêm phần phong phú. Văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài…) song phong phú,đa dạng và giàu màu sắc địa phương và có thể phân thành 4 mảng chính là ca dao-dân ca, Tục ngữ-câu đố, Truyền thuyết-cổ tích-truyện trạng, hò vè.

Ca dao- dân ca của bất cứ miền nào trước hết cũng là tiếng ca của nghĩa tình, tiếng nói của yêu thương. Trong sinh hoạt gia đình, làng xã, lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, khi tiếng nói của con tim đã đã ở cung bậc cao nhất, người lao dộng dùng lời ca để bày tỏ tâm tình trước cảnh vật, trước những biến diễn của cuộc đời và trao đổi tâm tình với nhau. Tính trữ tình, bởi vậy thấm đượm trong nội dung lẫn âm điệu của các khúc hát dân gian. Một chút buồn thoáng qua của con người trước cảnh vật:

Chim kêu ghềnh đá gẫm thân thêm buồn

Một tình cảm thành kính dâng lên cha mẹ:

Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già

Việc tìm kế sinh nhai nhưng người Quảng Trị luôn nhớ về quá khứ, nào công cha, nghĩa mẹ vô bờ bến, tình nghĩa vợ chồng keo sơn, gán bó dù sông cạn đá mòn:

Mẹ thương con qua cầu Ái Tử Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu Một mai bóng xế trăng lu Con ve kêu mùa hạ biết mấy thu gặp chàng

Tất cả những biểu hiện khác nhau của mối quan hệ giữa con người với con người, tất cả những cung bậc phong phú, đa dạng, tinh tế của tình cảm con người, ca dao – dân ca đã “thấu đến chân tơ kẻ tóc” (chữ dùng của Xuân Diệu) và đã nói bằng một tiếng nói đằm thắm, sâu lắng, thiết tha. Tình cảm ấy mở rộng ra, nâng lên thành tình cảm đối với quê hương đất nước, thành tình cảm giai cấp, nghĩa đồng bào, và sau này trong thời đại mới là nghĩa quân dân, tình dân đối với Cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ và tình nam Bắc ruột thịt. Những biểu hiện khác nhau ấy của tình riêng, nghĩa chung trong ca dao – dân ca miền nào cũng có. Vấn đề đặt ra là cần tìm ra những sắc thái riêng. “Những óng ánh riêng” trong cách biểu đạt tình cảm của ca dao dân ca mỗi miền.

Tiếp xúc với ca dao – dân ca Bình Trị Thiên, ta thấy có nhiều cách biểu đạt khác nhau về những khía cạnh tinh tế, phức tạp của tình cảm con người. Có bài ca dao hết sức mộc mạc, mộc mạc như là lời ăn tiếng nói hàng ngày, diễn đạt một tiếng long cũng hết sức giản dị, chân thực:

Đôi ta thương chắc mần ri Bọ mẹ mần rứa, eng thì mần răng?

Có trường hợp là một tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt đấu tranh cho một nguyện vọng, một ước mơ một sự trọn vẹn của nghĩa tình.

Thiếp thương chàng gươm vàng không sợ Súng bắn chin, mười lần duyên nợ không buông. Chẳng thà chịu tiếng cho luôn Gươm trường kề cổ không buông nghĩa chàng.

Song nhìn chung tiếng trong ca dao-dân ca Bình Trị Thiên, dù mỗi vùng sắc thái có khác nhau vẫn là tiếng nói đằm thắm giàu ân nghĩa chứ không thiên về rắn rỏi, mạnh mẽ, quyết liệt hoặc quá mộc mạc, trần tục…Cách diễn đạt lại thường nhẹ nhàng, bóng bẩy, có sự trau chuốt, gia công tỷ mỉ trong việc dùng chữ, đặt câu (sắc thái này thể hiện rất rõ trong ca dao dân ca vùng Huế -Thừa Thiên)

Kháng chiến chống ngoại xâm là một nội dung khá quan trọng. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ca dao dân ca Quảng Trị vẫn không ngừng phát triển để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã vẽ nên những trang sử oai hùng của dân tộc, cho Quảng Trị mà các địa danh Triệu Sơn, Ba Lòng, Như Lệ là những nơi tiêu biểu cho phong trào kháng Pháp. Những nơi khác cũng đã từng in dấu chiến tranh tàn phá như dãy Trường Sơn, sông Thạch Hãn, Bích La Đông, An Hoà, Đại Hào, Phương Ngạn:

Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù.

Cần ghi nhận là dân ca cũng theo thời sự mà chuyển biến, phát triển. Chiến đấu để thống nhất, để được sống tự do, độc lập trên quê hương là niềm tin mãnh liệt của người dân Quảng Trị thể hiện rõ từ thời kháng chiến chống Pháp đến thời chống Mỹ. Ca dao dân ca Quảng Trị đã phản ánh một cách sinh động ý chí và tâm tình thiết tha ấy.

Như vậy, sự thêm bớt chữ trong các câu ca dao Quảng Trị là không có quy tắc mà hoàn toàn tuỳ theo cảm hứng của người hò, sao cho tròn ý nghĩa là được. Sự hợp vần trong các dao thường thay đổi, hết gieo vần lưng lại gieo vần chân, như quy luật hợp vần của thể lục bát và song thất lục bát, nhưng một số ít câu ca dao của Quảng Trị lại có lối gieo ở vần chân.

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Quảng Trị cũng khá phong phú. Ta sẽ gặp ở đây những loại từ đối nghĩa, đối ý trong dân ca đối đáp: – Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít Trầu cả chợ răng nói trầu không Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi – Chuối không qua Tây răng gọi là chuối sứ ? Cây không biết chữ răng gọi là thông ? Nam nhơn đà đối đặng quyết làm chồng nữ nhi Trong lời hò đối đáp, lối ứng xử thật thông minh: Ngồi buồn nói chuyện trên non Một trăm thứ cá có con không thằng Khi chọc ghẹo nhau vẫn giữ lối văn nhã: Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung – Anh về thưa với hai họ rõ ràng

Mời thân nhân lại, em mở khuôn vàng cho coi

Quảng Trị là vùng đất thành lập sau khi nước ta đã định hình hàng nghìn năm trước. Văn học dân gian vùng này là sản phẩm của những con người có gốc từ Thanh Nghệ truyền vào. Qua cuộc sống chung với dân bản địa ở vùng đất mới, dần dần con người ở đây mới tạo được một phong cách riêng. Sự giao lưu văn hoá thế tất phải xảy ra. Ca dao là thể loại để lại những dấu vết rõ rệt trong ngôn ngữ văn học

TỤC NGỮ – CÂU ĐỐ

Tục ngữ và câu đố là hai thể loại suy lý phổ biến ở Quảng Trị . Cũng như ở các nơi khác, tục ngữ Quảng Trị được phân làm hai tiểu loại: Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết và sản xuất. Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về đời sống xã hội. Đây là phần quan trọng nhất là mọi người cần quan tâm khi viết về đề tài ca dao- tục ngữ

Nhìn chung, kinh nghiệm của nhân dân ở đau cũng tương tự như nhau. Ở Quảng Trị có những câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết như sau: Chớp ngã Cồn Tiên; Mưa liền một trộ; hoặc: Sấm Đầu mâu không cầu cũng đến.

Lại có những câu đề cập đến sản vật đặc biệt của từng địa phương. Chính qua những câu tục ngữ này, chúng ta lại càng hiểu sâu sắc hơn văn hoá vật chất của vùng đất Quảng Trị:

-Nem chợ Sãi, vải La Vang -Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại -Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ – Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông -Cá bống Bích La, gà Trại Lộc…

Kinh nghiệm về đời sống xã hội có những câu thật xác đáng và thực tế:

-Chạy lóc xóc không bằng góc vườn -Nhiều nghề cá trê húp nác(nước)

Người miền núi cũng bày tỏ kinh nghiệm của họ:

– Đừng mau phai như hoa Toang-a-rát – Đừng chóng bạc như vôi – Xách bầu phải xem quai – Địu con phải xem vải buộc – Làm cỏ phải xem cán nắm

Về hình thức nghệ thuật, các câu tục ngữ ở Quảng Trị thường hợp vần theo lối yêu vận chứ không theo lối cước vận.

Câu đố Quảng Trị có thể phân thành những tiểu loại:

-Về những bộ phận cơ thể của con người -Về những hoạt động của con người -Về các con vật -Về các loại cây trái -Về các sự vật hiện tượng khác.

Qua những câu đố ấy, ta thấy được sự tinh vi trong những nhận xét về sự vật, con vật sống cạnh người, như đố về con gà trống:

Đầu rồng, đuôi phụng cánh tiên Ngày năm bảy mụ tối ngủ riêng một mình. Hoặc con chó : Khen ai nho nhỏ Mắt tỏ như gương Tối trời như mực Biết người thương ra chào

Có nhiều khi sự liên tưởng vô cùng sâu sắc. Đố về cau, trầu, vôi có câu:

Hai cây cao đã nên cao Một người dưới rào xa đã nên xa Ba người họp lại một nhà Kết duyên phu phụ duyên đà mặn duyên

Có thể nói sự thông minh dí dỏm, óc nhận xét tinh vi của người Quảng Trị đều được thể hiện trong câu đố:

Da non mà bọc lấy xương Lửa cháy trên đầu chúa chẳng thương Đêm năm canh tiêu hao mình thiếp Nghĩ đến đoạn trường nước mắt nhỏ sa ( Cây đèn sáp) Một mẹ sinh đặng ngàn con Trai có gái có , tài khôn rõ ràng Mặt trời đã xế vàng vàng Con xa ngái mẹ lại càng thương thay Cách nhau đã bốn năm ngày Con lại gặp mẹ mừng thay là mừng (Phiên chợ Cam Lộ)

Một số câu đố khác theo lối “đố tục giảng thanh” cũng thường được nhân dân Quảng Trị vận dụng để sáng tác.

Các truyền thuyết về đền- tháp- miếu- chùa như “Sự tích tháp Dương Lệ và tháp Trung Đan”, ” Đề Tương Hầu”, ” Miếu Tương Nghè”…đã vẽ lại một giai đoạn lịch sử lâu đời lúc thần linh còn ngự trị khá sâu sắc trong tư tưởng của nhân dân.. Qua các truyền thuyết đó, ta thấy được lòng tôn trọng văn hoá, biết ơn những vị có công với đất nước, quê hương

Truyện cổ tích lại mang một nội dung khác. Đó là những chuyện phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người, đề cập đến những tình cảm riêng tư trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội. Hệ tư tưởng nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong các truyện cổ. Nhiều truyện nêu bật các đức tính chung thủy, hiền hậu, đảm đang, cần kiệm. Truyện” Vác mía tìm dâu”, “Tình mẹ con” có mục đích khuyến dụ thanh niên nam nữ giữ gìn và phát triển những đức tính ấy để bảo vệ tình cảm, đạo đức trong cuộc sống gia đình. Truyện” Vợ làm quan cho chồng” đề cao người vợ khôn ngoan cũng là truyện có khuynh hướng đạo lý… Có thể nói các truyện cổ tích dân tộc kinh tại vùng đất Quảng trị dù phương thức diễn đạt khác nhau, có truyện mang tính thần kỳ, có truyện mang tính khôi hài… nhưng nhìn chung xu hướng trong các truyện cổ là đe cao đạo lý làm người.

So với truyện cổ dân tộc kinh thì truyện cổ miền núi Quảng Trị phong phú hơn. Một số truyện cổ tích có tính suy nguyên luận như ” Sự tích sao hôm sao mai” (taôi), ” Tình nghĩa gà vịt” (Vân kiều)…phản ánh sinh hoạt xã hội, có mục đích khuyến giáo đạo lý làm người, đề cao sự chung thuỷ, phê phán những hạng xảo trá, lừa đảo trong quan hệ gia đình, xã hội. Truyện cổ tích thần kỳ miền núi khá hấp dẫn ở những yếu tố người thần, vật thần. Truyện “Con voi thần” hấp dẫn ở nội dung độc đáo, thể hiện sự chất phác cùng sự dung dị trong nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc miền núi.

Trong kho tàng truyện kể Quảng Trị, truyện cười cũng chiếm số lượng lớn và vô cùng phong phú. Đặc biệt vùng đất Như Lệ khô cằn lại tập hợp một khối lượng truyện cười đáng kể. Đáng chú ý hơn cả là Chuyện Trạng Vĩnh Hoàng . Nghệ thuật kể truyện Trạng Vĩnh Hoàng tuy cũng dùng biện pháp khoa trương, phóng đại, nhưng dựa trên cơ sở hiện thực như chuyện “Trâu đen trâu bạc” là để phóng đại dưa hấu ở Vĩnh Hoàng, chuyện “Mắc cọp mà cày” là để phóng đại việc người Vĩnh Hoàng ngày trước đi cày rất sớm và vùng này cũng nổi tiếng có nhiều cọp như ở Thuỷ Ba. Về phương thức phóng đại, người Vĩnh Hoàng không dùng lối trực tiếp mà diễn tả bằng lối gián tiếp. Để chỉ quả dưa khổng lồ, họ không so sánh quả dưa đó với vật thể nào mà diễn đạt một cách thông minh hơn: dưa mà đạn bắn vào mắc kẹt không ra được, cả đàn quạ chui vào ruột khoét dưa ăn, rồi mang cả dưa lẫn quạ bay lên cao.

Truyện Trạng Vĩnh Hoàng đã nêu bật được bản sắc độc đáo của con người Việt Nam ở Vĩnh Hoàng. Tuy là truyện Trạng nhưng vẫn có một giá trị hiện thực. Đây không phải là những truyện bông lơn, nói láo một cách hời hợt dễ dãi mà xây dựng từ những thành quả lao động và chiến đấu. Giá trị ấy cần phải được khẳng định khi xét đến mối tương quan của nó với các loại truyện khác như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn…

HÒ VÈ

Hò địch vận ở Như Lệ vốn là biến điệu của hò mái nhì nhưng vang xa như tiếng ngân vút cao mạnh mẽ phát ra từ con tim yêu nước nồng nàn. Tiếng hò Như Lệ là nét độc đáo trong dân ca kháng chiến Quảng Trị, nó đã phát huy tác dụng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong thời kỳ chống Mỹ, tiếng hò kháng chiến lại được dịp vang xa. Nhiều câu hò hai bên bờ sông Bến Hải nói lên niềm ước vọng đất nước thống nhất. Chính ở vùng này đã hình thành nên một bộ phận văn học dân gian mang những đặc điểm riêng của một vùng đất bị chia cắt.

Sông Hiền Lương bên bồi, bên lở Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương Bao giờ giặc Mỹ hết phương Bắc Nam sum họp con đường vô ra.

Vè là một thể loại kể chuyện bằng văn vần phổ biến ở Quảng Trị, phát triển mạnh vào thế kĩ XIX. Vè Quảng Trị cũng như các nơi khác, phần lớn là những bài có dung lượng vừa phải được sáng tác theo thể lục bát, hoặc tứ tự, song thất lục bát. Một số bài nổi bật với nội dung mang tính xã hội sâu sắc. Đó là loại vè thế sự. Vè “Mẹ Hẹ” là một sáng tác độc đáo. Hình thức sáng tác gần như lối thoại kịch với lời đối đáp của hai nhân vật: cô Hẹ và quan huyện. Nội dung bài vè kể lại câu chuyện cô Hẹ vào tuổi xuân tình phơi phới đã bị quan huyện lừa phỉnh. Sau khi để lại một bầu thai cho cô Hẹ, quan huyện ấy đã tàn nhẫn đuổi cô Hẹ ra khỏi nhà. Cô Hẹ nuốt hận trở về nhà mẹ. Sau khi sinh nở, thấy cô vẫn còn xuân sắc, quan huyện lại giở trò tán tỉnh. Cô đã vạch trần thói bạc tình, bạc nghĩa của tên quan này bằng một ngôn ngữ cay chua, mang sắc thái địa phương đậm đà mà không phải bài vè nào cũng thể hiện được.

Xoay quanh thể loại này có những giai thoại mà mỗi khi quây quần bên ấm chè xanh hoặc đôi phút giải lao nơi đồng áng thường được người dân truyền tụng. Chuyện ông Bộ ở làng Gia Độ và O Thơi ở làng Xuân Thành là một trong số đó. Ông Bộ là người nho nhã, có vốn nho học. Tuy đã có gia đình nhưng lại rất say mê hò hát. Còn O Thơi là một gái chưa chồng, tài sắc vào đám nhất vùng thời ấy. Một hôm, gặp O Thơi quang gánh di chợ qua cánh đồng giáp hai làng, ông Bộ nổi hứng cất câu hò:

“Buôn bán chi chi rày lời mai lỗ, vất quách thúng rỗ theo anh. Một mai công toại danh thành, ta ngồi chung kiệu hành đó đây”

Không hề chần chừ nghĩ ngợi lâu, O Thơi cất giọng hò đối lại ngay lập tức:

“Chữ thánh hiền dược mấy pho mấy bộ, dám huênh hoang xuất lộ vi hành? Một mai đỗ đạt thành danh, đã có O Tam thể nó đợi anh kết nguyền”

Ông Bộ đỏ mặt vì câu hò cay độc. Ai đời đường là một đấng trượng phu ra rứa lại cho rằng chỉ có con mèo tam thể mới lấy anh!

Vẫn cái máu mê gái lại mê hò, một hôm vợ ông Bộ chuyển bụng sắp sinh, nhà lại hết dầu, vợ ông bảo ông xuống chợ mua dầu. Vừa ra đến đầu ngõ gặp cô Thơi đang đang mò cá. Hai người đối đáp đến nổi quên cả mặt trời đã xuống núi. Bỗng ông Bộ cất lên một câu hò trêu chọc rằng:

“Cảm thương cho Em sớm thì lăn đồng cạn, chiều lại lặn đồng sâu. Con tôm con tép liệu được mấy đồng xu”.

O Thơi hò đáp lại:

“Chứ làm ra năm trự mười đồng, trước ngon cơm anh sau lành áo mẹ để tỏ tấm lòng nàng dâu”.

Cũng cần đề cập thêm một nội dung khác cũng khá phong phú của vè Quảng Trị, đó là vè kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài bao nhiêu năm trên đất Quảng Trị khô cằn là đề tài cho hàng trăm bài vè phản ánh những nỗi khổ cực của người dân trong cuộc chiến tranh xâm lược, nêu bật tinh thần chiến đấu ngoan cường của nhân dân ở một vùng đất có truyền thống đấu tranh.

Bao năm tháng qua, văn học dân gian Quảng Trị đã sống cùng nhịp sống của dân tộc bằng tiếng nói hồn hậu, trung thực của mình, ngân vang bằng giọng hò thiết tha, trìu mến thân thương cho đến ngày nay.

Nguồn Internet

”Bài Viết Chuyên Đề Văn Học Dân Gian” / 2023

Đây là những bài viết có sự đầu tư về thời gian, công sức. Tuy mới làm quen với kiểu bài nghị luận văn học của bậc THPTnhưng các em chứng tỏ có sức viết bền bỉ, dẫn chứng phong phú, so sánh mở rộng, liên hệ thực tế sinh động.

Đề 1:

Truyền cổ tích là những giấc mơ. Theo em, nhân dân lao động gửi gắm những giấc mơ nào vào truyện cổ tích.

Bài làm của học sinh Ngô Phương Liên 10D2

Truyện cổ tích là một trong những loại truyện cổ dân gian ra đời khi xã hội phân chia giai cấp. Truyện cổ tích hay kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật như: nhân vật bất hạnh, nhân vật có nhiều phép lạ, nhân vật thông minh hoắc ngốc ngếch,… Truyện cổ tích thường mang yếu tố hoang đường, nó thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân về cái thiện cái ác, cái tốt thay thế cái xấu ước mơ về ấm no hạnh phúc.

Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp, là một thế giới thần tiên, đầy phép nhiệm màu, nó thể hiện những khát vọng tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội. Đọc truyện cổ tích, ta bắt gặp những giấc mơ đẹp của người lao động xưa. Vâng có khi nào ta tự hỏi tại sao họ phải mơ ước không? Con người xưa ta mơ khi thực hiện không đáp ứng được sự mong mỏi, cho nên phải hướng về một thế giới khác, tươi đẹp hơn, đúng như mong đợi của họ. Người xưa cũng vậy, cuộc sống của họ là một bể khổ tưởng như khó lòng thoát ra khỏi được. Một cuộc sống luôn bị áp bức chiến tranh, một cuộc sống bị đè nén bóc lột cả về thể chất lẫn tinh thần. Họ phải làm việc cực nhọc ngày qua ngày năm qua năm những luôn phải chịu đói khổ cực nhọc như anh nông dân nghèo Thạch Sanh… Họ luôn bị khinh thường rẻ rúng, bị tước đoạt quyền được yêu thương, quyền làm người như Cô Tấm, Sọ Dừa… Vì thế họ phải mơ. Khát vọng công bằng trong xã hội, một khát vọng thường trực mà ta luôn gặp trong truyện cổ tích. Dễ dàng thấy nhân vật chính nằm trong chuyện là những con người riêng, những người dị dạng xấu xí, những kẻ làm thuê, những người nghèo khó… họ bị ngược đãi. Cô Tấm bị dì ghẻ hắt hủi, bắt làm việc tối ngày, anh nông dâ bị phú ông lừa bóc lọt sức lao động một cách thậm tệ. Sọ dừa bị mọi người coi ngường, không được coi ngường, không được coi là người. Nhưng họ có thể làm gì được nay chỉ là thân phận thấp cổ bé họng, thân phận con sâu con kiến? Bởi thế họ luôn mơ ước có những thế lực siêu nhiên như ông Bụt, cô tiê, vua thủy tề hay chiếc đàn thần, nồi cơm thần… Sự xuất hiện của những vị thần tiên này đào tạo lên sự công bằng trong truyện cổ tích. Sự công bằng ở đây tức là sự chiến thắng của cải thiện trước những thế lực đen tối, tội ác. Chính vì thế trong truyện ta mới bắt gặp những kết thúc có hậu, Thạch Sanh nghèo lấy được công chúa, cô Tấm đáng thương trở thành hoàng hậu. Rõ ràng dây là khát vọng của họ, mơ ước của họ những chỉ là giấc mơ không có thật nhưng cũng đủ để họ giảm bớt những âu lo của tháng ngày lao động vất vả.

Không chỉ dừng ở đó, người xưa còn ao ước được tự do hôn nhân, tự mình quyết định lấy hạnh phúc của mình. ƯỚc mơ này là chính đáng, bởi xã hội phong kiến đã trói buộc con người đặc biệt là người phụ nữ trong các luật lệ hà khắc như ” cha mẹ đặt đâu con ngồi đó nam nữ thụ thụ bất thân”, “tam tòng tứ đức”. Vì thế mà tự do hôn nhân có thể coi như mơ ước rất quan trọng đối với người xưa. Nói về vấn đề này Chử Đồng Tử hay cụ thể hơn là cuộc hôn nhân Chử Đồng Tử – Tiên Dung là một minh chứng hùng hồn, đây là mối tình đẹp. Đẹp vì đó là mối tính thực sự của hai trái tim bất chấp mọi luật lệ hà khắc của xã hội phong kiến về đẳng cấp, về địa vị xã hội. Tiên Dung khi lấy Chử Đồng Tử không có một băn khoăn nào vì mình là một công chúa đã lấy anh thuyền chài nghèo rớt mùng tơi.Nàng bất chấp sự ngăn cản của vua cha, đó là một thiếu nữ có bản lĩnh. Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử một cách bất ngờ tại một vùng trời bao la. Mối tình của họ cũng đột ngột và phóng khoáng như thiên nhiên vậy. Đẹp là vì nó hợp với lòng người nên được thần tiên giúp đỡ. Nhờ vậy, mà vợ chồng Tiên Dung đã sống những ngày hạnh phúc, rồi lại cùng trở về cõi vĩnh hằng. Mối tình Tiên Dung và Chử Đồng Tử chỉ có thể trở thành hiện thực trong truyện cổ tích mà thôi. Vì thế trải qua nhiều thế kỉ nó vẫn là giấc mơ đẹp, là tiếng nói khao khát tự do yêu thương, đặt tình yêu lên tất cả.

Những ước mơ trên không thể thực hiện được trong đời sống hằng ngày, nó chỉ có thể thực hiện được trong các truyện cổ tích nhờ những phép nhiệm màu. Tuy nhiên, chính nhờ có những giấc mơ đẹp mà truyện cổ tích trở thành niềm an ủi, thành nguồn động viên, thành người bạn tin cậy của nông dân từ thế kỉ này sang thế kỉ khác, Vâng có một nhà văn nổi tiếng đã từng nói “chuyện cổ tích là những giấc mơ đẹp”, giấc mơ nuôi dưỡng nhân cách con người. Truyện cổ tích không có thạt nhưng giấc mơ cổ tích là đôi cánh kì diệu để nâng đỡ cho nhân cách của con người ngay trong ngập ngụa đau khổ đời thường, là điểm tựa để họ sống và hi vọng một ngày mai giấc mơ không còn là giấc mơ nữa.

Khép lại những câu chuyện cổ tích thần kì, ta lại trở về hiện thực đương thời với biết bao chuyển động như nó vốn có. Ngày nay khi thế giới đã bước vào một thời đại hoàn hảo, có thể nói nơi mà chúng ta đang sống giống như một thế giới thần tiên vậy, ngày xưa trong truyện cổ tích những ước muốn xa hoa hay nhà cao cửa rộng còn xa vời nhưng ngày nay chúng ta có thể có được một cách dễ dàng. Trong xã hội ngày nay, khi mà mọi điều kiện về cả vật chất lẫn tinh thần của con người đều đã tiền bộ và vượt xa hơn rất nhieuf so với thời kì khi mà những truyện cổ tích ra đời, liệu rằng trong thế giới thực này, còn có những câu chuyện cổ tích thực sự? Ngay trong thực tế đã chứng minh, vẫn còn tồn tại rất nhiều câu chuyện cổ tích trong đời thực. Mọt cô bé đến từ bang hẻo lánh của Mĩ, em bị mù, điếc và không nói nói được. Từ lúc em sinh ra bị mọi người kì thị và mơ ước được đến trường còn quá xa vời với em, nhưng một điều kì lạ xảy ra một bác sĩ đi làm từ thiện đã giúp em từ từ học chữ nổi bằng những động lực cố gắng không ngừng nghỉ, em đã từ từ nói được và nghe được. Điều này chắc hẳn đã chạm đén tim của mỗi người chúng ta. Tuy cuộc sống không như một giấc mơ vậy nên hãy tự tạo nên giấc mơ riêng của mỗi người và biến giấc mơ đấy thành sự thật.

Ngày nay những giấc mơ đã thành sự thật ngoài đời và những giấc mơ cổ tích lại tiếp tục gieo mầm cho những giấc mơ mới của ngày hôm nay. Những câu chuyện cổ tích dậy tuổi thơ ta biết ước mơ, khát vọng, biết tin vào những giấc mơ chân chính để sống trong cuộc đời.

(Xem tiếp đề và bài số 2)

Tại Sao Nói: Văn Học Dân Gian Là Cội Nguồn, Là Bầu Sữa Mẹ Nuôi Dưỡng Nên Văn Học Viết Việt Nam / 2023

DÀN Ý

– Văn học dân gian có nhiều thể loại

– Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian.

– Nhiều tác phẩm, nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết. Nhiều nhà thơ , nhà văn lớn của dân tộc (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, ….) đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú”.

– Về phương diện nội dung:

+ Văn học dân gian cung cấp cho các nhà văn của mọi thời đại những quan niệm xã hội, đạo đức của nhân dân lao động, của các dân tộc. Ngoài ra, nó còn cung cấp những tri thức hữu ích về tự nhiên xã hội, góp phần quan trọng về sự hình thành nhân cách con người, bảo tồn, phát huy những truyền thồng tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống yêu nước, tinh thần hướng thiện, trọng nhân nghĩa, giàu tình thương,…Biểu hiện rõ nhất là ở đề tài, nguồn cảm hứng, tư tưởng nhân ái, tình cảm lạc quan, yêu đời, tình yêu thiên nhiên, đất nước, tình yêu con người,…

– Đề tài tiêu biểu trong văn học dân gian: Số phận người phụ nữ, thân phận người lao động nói chung, tình yêu đôi lứa, những kinh nghiệm sống quý báu, đặc biệt ngợi ca tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước,…

– Nguồn cảm hứng: Văn học dân gian thường lấy nguồn cảm hứng từ thiên nhiên, cuộc sống xã hội, lao động sản xuất,… .Đặc biệt, ca dao Việt Nam đã đưa ra những tiêu chí về vẻ đẹp người con gái truyền thống.

– Tư tưởng nhân ái: Văn học dân gian đề cao tình cảm yêu thương con người nhất là thân phận người phụ nữ, người lao động cùng khổ,…

– Về phương diện nghệ thuật:

+ Văn học dân gian cung cấp cho các nhà văn một kho tàng các truyền thống nghệ thuật dân tộc, từ ngôn ngữ đến các hình thức thơ ca, các phương pháp xây dựng nhân vật, hình ảnh, cách nói, các biện pháp tu từ, thể loại, chất liệu dân gian,…

+ Ngôn ngữ: ngôn ngữ văn học dân gian mang đậm tính triết lí, giàu chất thơ song hình thức biểu đạt lại gần gũi, dễ hiểu. Người dân lao động thường dùng những cách nói trong giao tiếp hàng ngày để diễn đạt tư tưởng, tình cảm cũng như đúc kết kinh nghiệm sống.

+ Các biện pháp tu từ: Văn học dân gian thường sử dụng các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá,… để giúp hình dung một cách cụ thể thông qua những hình ảnh quen thuộc như: hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò,…

+ Thể loại: Hơn 90% số bài ca dao sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Trong ca dao còn có thể thơ khác, như: song thất lục bát, vãn bốn, vãn năm. Nguyễn Du đã rất thành công trong việc sử dụng thể thơ lục bát của dân tộc với tác phẩm “Truyện Kiều”. Ngoài, còn có một số tác phẩm văn học viết cũng được sử dụng thể thơ dân tộc này: “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu), “Lỡ bước sang ngang” (Nguyễn Bính),….

+ Chất liệu dân gian : Các nhà thơ đã sử dụng rất linh hoạt chất liệu dân gian vào tác phẩm của mình

Bạn đang xem bài viết Văn Học Dân Gian Thời Covid / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!