Xem Nhiều 2/2023 #️ Vương Trọng, Một Mai Nếu Bạn Muốn Đi Tìm # Top 10 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Vương Trọng, Một Mai Nếu Bạn Muốn Đi Tìm # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Vương Trọng, Một Mai Nếu Bạn Muốn Đi Tìm mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhà thơ Vuong Trọng

Với tôi điều đó thoạt tiên gây sự ngạc nhiên, và rồi từ ngạc nhiên tôi muốn tìm hiểu sáng tác của họ. Chọn trường hợp Vương Trọng, tôi thực sự thú vị những muốn lục tìm trong từng câu chữ của anh những dấu ấn mờ tỏ tư duy của một người làm toán. Nhưng tôi đã gần như thất bại. Điều đó chứng tỏ, tư duy hình tượng và những thăng hoa lãng mạn của thơ đã lấn át những khái niệm khô khan của toán học.

Hãy quan sát anh trong những khoảnh khắc đời sống, những sự kiện đưa đến những rung động trong tâm hồn anh với tư cách là một người làm thơ. Đây là những hoàng hôn tuổi thơ dại, chờ mẹ về từ đồng chiêm của mấy anh em trên bậu cửa:

Anh em con chịu đói suốt ngày tròn

Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa… Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng

( Khóc giữa chiêm bao )

Đô Lương quê anh, những bờ bãi ven sông Lam xanh biếc ngô khoai, những núi Quỳ đất đỏ kia là gì mà để lại thật sâu nặng trong ký ức của anh, đến mức dù có sống ở miền quê nào, cũng không thể thay thế được, dù có đi đến đâu cũng không thể có miền đất nào sánh nổi:

Con lang thang vất vưởng giữa đời thường

Đâu cũng sống, không đâu thành quê được

( Khóc giữa chiêm bao )

Miền quê gian khổ đó có ngôi nhà thân yêu của anh, có một thời kham khổ, thiếu thốn, nhưng cũng cái thời đó, mọi thứ đều trở thành trớ trêu, nghịch lý. Ví như gia đình anh cũng bao gia đình khác, thiếu ăn, kham khổ là vậy, nhưng vẫn bị quy thành phần. (Thời ấy gia đình nào mà bị quy thành phần thì khốn khó vô cùng! ). Hãy đọc những câu thơ tả thực nhớ về thời gian nan kia của Vương Trọng: Một thời kham khổ anh em/ Vừng rang rau cải, rau giền làm cơm/ Mùa đông chen chúc ổ rơm/ Nửa đêm cơn đói còn thơm mùi vừng ( Phố phường ai giã cối vừng ). Giữa thị thành, nhà ai đang giã vừng, mùi thơm liên tưởng tới những ngày gian khó ở quê nhà. Nghe tiếng sấm đầu mùa, điều nhớ nhất là tiếng người râm ran gọi nhau đi bắt cá: Gặp cơn mưa lớn đầu mùa/ Râm ran tiếng đó, tiếng lờ đi đơm ( Nhà quê 1 ). Cơn mưa đầu mùa gọi anh về với những ký ức tuổi thơ, và làm thức dậy trong tâm hồn anh những khát khao sáng tạo: Cơn gió đồng thổi thi tứ vào thơ ( Nông dân ).

Có phải vì ở đấy Vương Trọng có những người thân yêu tuyệt vời mà anh mang theo hình ảnh của họ, như một sự ân nghĩa suốt cả cuộc đời anh. Ví như hình ảnh người chị dâu: Lấy chồng, chồng ở nhà đâu/ Em chồng đông, mẹ chồng đau ốm nhiều/ Làm dâu gặp phải cảnh nghèo/ Đôi bàn tay chị chống chèo lo toan ( Chị dâu ).

Người chị dâu ấy không những chống chèo, lo toan việc lớn của nhà chồng đã đành, ngay cả những việc nhỏ như đến bữa cơm thường ngày, chị cũng giành chỗ đầu nồi, xới cơm cho cả nhà: Bữa cơm em út quay vòng/ Đầu nồi, chị xới tay không kịp rời. Người chị dâu của Vương Trọng hệt như người phụ nữ tôi đã từng gặp, chỉ khác là, trong số những người ngồi quay vòng bên nồi cơm kia, chí ít có một người hiểu chị, chia sẻ với chị. Người đó lớn lên cầm bút viết về những ký ức không quên ấy về người chị dâu của mình. Người cầm bút đó là Vương Trọng. Tại đây cần nhấn mạnh, nếu Vương Trọng không có cái trắc ẩn rất con người kia về chị dâu của mình ( cũng như sau này lớn lên với biết bao số phận khác anh gặp trong đời ), chắc gì Vương Trọng đã cầm bút làm thơ. Như vậy, lòng trắc ẩn – biểu hiện cụ thể nhất của lòng nhân ái là nơi bắt đầu của thơ. Nói khác đi, thơ đi từ đó – từ lòng nhân ái, trắc ẩn, và thơ cũng hướng con người đến đó.

Có phải là ngọn núi Quỳ nhỏ nhoi mà dù đi qua bao núi, vượt qua bao đèo, anh vẫn luôn luôn nhớ về: Tôi đã mang chiều cao núi Quỳ đọ những đỉnh núi cao/ Ngày về thấy núi Quỳ thấp lạ. Đó là ngọn núi thuở nhỏ Vương Trọng ngày đội nắng, chân dép mềm đá bỏng/ Để đêm về thông mọc giữa chiêm bao ( Núi Quỳ ). Hình như ngọn núi này vẫn còn cất giữ rất nhiều những kỷ niệm tuổi thơ của Vương Trọng. Rồi ta sẽ gặp lại núi Quỳ một lần cuối trong thơ anh!.

Nói Vương Trọng đa cảm ngoài nỗi thương nhớ người chị dâu đảm đang, đẹp người tốt nết, người mẹ tảo tần chịu thương chịu khó và ngọn núi Quỳ thân thuộc như trên là chưa đủ. Là thi sỹ, Vương Trọng không giấu những xúc cảm trong trái tim mình. Mỗi lần đi qua nơi hẹn hò gặp nhau giữa anh và người yêu năm nào, trái tim anh lại vang lên những nhịp đập thuở ban đầu:

Cái thời mơ ước thì cao

Bầu trời cũng hẹp, ngôi sao cũng gần Cái thời người ấy chớm xuân Ta vừa lớn dậy mới lần đầu yêu…

Cái nơi hẹn hò ấy thường hiện lên giữa chiêm bao

Sao chiêm bao những đêm thường

Người xưa hiện với đoạn đường này đây

( Khi qua nơi hẹn )

Còn đây là lời tự thú, khi đã trót nhớ vụng thương thầm:

Ngoài em ra anh đã nhớ đã thương

Không chỉ một vài người con gái

( Tự thú )

Nhưng đây thì không còn là nhớ thương thầm vụng nữa:

Em tuy có cháu gọi bà

Với anh sau trước vẫn là em thôi

( Hẹn tết )

Người đa cảm thì vẫn thường hay cô đơn, vẫn thường không thoát khỏi cô đơn, không thoát khỏi chạnh lòng mỗi khi đối diện với hạnh phúc của người khác. Một lần đi qua hồ Tây thấy thanh niên đi bên nhau từng đôi, anh viết:

Thuyền nào cũng thấy thuyền đôi

Ghế nào cũng gặp hai người bên nhau Một mình chẳng biết dừng đâu Anh đi như một con tầu không ga

( Qua hồ Tây )

Bài thơ không đề năm tháng sáng tác, nhưng tôi dám chắc được viết khi anh đã không còn trẻ. Bỗng nhớ tới nhà thơ Thanh Tịnh những lúc cô đơn nhất, thường nói: Trẻ em đi từng đàn, thanh niên đi từng đôi và cụ già đi từng chiếc ( ! ). Vương Trọng chưa già nhưng chắc cũng không còn trẻ nữa ( nhân vật trữ tình trong bài thơ xưng Anh ) đã thấm thía nỗi đơn chiếc trên trần gian này, chí ít là quanh hồ Tây nổi tiếng tình tứ và lãng mạn này, anh như không chốn nương thân, bất định như một con tầu không ga… Điều này thêm một bằng chứng cho thấy Vương Trọng đa sầu, đa cảm.

Chưa hết, không chỉ đa sầu, đa cảm, Vương Trọng đã không ít những giây phút tuyệt vọng khắc khoải, đợi chờ: Qua giờ hẹn, sao em chưa tới/ Đèn ngã tư đã bao lượt đổi màu ( Đợi em trên đường Pasteur ); Vương Trọng cũng đã bao lần thấp thỏm: Có em rồi ta trẻ lại bao nhiêu/ Khi thứ Năm trở thành Thứ hẹn ( Thứ hẹn ). Thì ra họ yêu nhau và hẹn cứ đến thứ năm lại gặp gỡ. Tại đây trong hồn thơ Vương Trọng cái mê của người làm thơ đã lấy mất cái tỉnh của người làm toán, cái dại khờ ( Một nửa hồn tôi hóa dại khờ – Hàn Mặc Tử ) tâm hồn người làm thơ đã chế ngự cái khôn ngoan của con người lý trí :

Năm tháng không em ta gánh nỗi cô đơn

Thời gian nặng nề leo dốc Thứ Năm lệch vai hai đầu chủ nhật Như người ly hương nặng nhọc Trên con đường Không có phía tình yêu

( Thứ hẹn )

Cho nên không có gì khó hiểu khi anh nồng nhiệt triết lý về tình yêu:

Chừng mực với mọi điều

Với tình yêu xin đừng chừng mực Đã yêu thì yêu như lửa đốt Cành cây nào cũng phải cháy thành tro Đã yêu thì yêu như rượu bốc…

( Triết lý khi yêu )

Tất cả cho thấy Vương Trọng là người sống theo chủ nghĩa tình cảm. Anh gạt sang một bên con người lý trí, con người toán học mỗi khi cầm bút làm thơ. Bởi vậy không khó để nhận ra nét chủ đạo trong thơ Vương Trọng vẫn là giọng điệu trữ tình quen thuộc của thơ ca nói chung, và của thơ ca Việt Nam nói riêng.

2. Cuối những năm 60 của thế kỷ XX Vương Trọng xuất hiện trên thi đàn với tư cách là một nhà thơ quân đội, tham gia cuộc thi thơ của Tuần báo Văn Nghệ, cùng với những Phạm Tiến Duật, Vương Anh, Bế Kiến Quốc, Phan Thị Thanh Nhàn…Tác phẩm Bài thơ nằm võng của anh đoạt giải cuộc thi ấy, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người đọc, và là một căn cước đưa anh về Tạp chí Văn Nghệ Quân đội. Kể từ đó sáng tác thơ, biên tập thơ với anh là nhiệm vụ.

Là nhà thơ quân đội, Vương Trọng để lại trong thơ mình rất nhiều những dư ba chiến tranh. Nhiều cuộc hành quân, những tăng, võng, bạt: Tuổi thơ ta nằm trên võng gai/ Đi dánh Mỹ ta nằm võng bạt ( Bài thơ nằm võng ). Rất nhiều những khoảng lặng nhớ thương đồng đội trên những cung đường gian lao: Lặng nhìn đồng đội mà thương/ Nắng nôi theo suốt chặng đường hành quân/ Đất tơi, trì trật bàn chân/ Tóc tai màu bụi, áo quần màu tro…Chúng mình nghiêng bóng che nhau/ Qua khắc nghiệt của Trung Lào mùa khô ( Đi dọc mùa khô )

Viết về chiến tranh, Vương Trọng chọn lối tả thực, hoặc có thể nói Vương Trọng sử dụng thế mạnh của mình là tả thực. Thơ có thể có hai phương thức tư duy cơ bản: hoặc là miêu tả hoặc là biểu hiện, miêu tả hiện thực và biểu hiện con người tư tưởng, con người tâm trạng của nhà thơ. Miêu tả hạp với ngôn ngữ xác tín, biểu hiện thường hạp với ngôn ngữ biểu cảm. Thơ Vương Trọng nghiêng về hiện thực, nghĩa là anh đứng gián cách với hiện thực, quan sát nó, lựa chọn những chi tiết để miêu tả nó bằng ngôn ngữ xác tín, đưa nó vào thơ. Trần Đăng Khoa gọi đó là những câu thơ viết bằng mắt. Trang thơ của anh vì vậy hiện lên chân thực như thực những khung cảnh chiến trận. Bức tranh về mặt trận Tà Sanh qua những câu thơ thô ráp, ở đó những vệt màu như cày dọc ngang trên mặt vải của một bức sơn dầu hoành tráng mà gân guốc, đầy những chất liệu nóng và chói gắt…cốt để miêu tả cho được cái dữ dội của chiến trường:

Con voi rừng trụi lông

Sốt rung rừng, lá mùa khô rơi rụng Khe lá mục cạn dòng nước uống Con nai khát ăn nhầm lá độc Chết vắt ngang thân mục gỗ chắn đường… Bạn tôi khát đến khi không nói được… Bạn tôi khát đến khi không đi được Nằm nhìn trời mà tưởng nhớ dòng sông Ước một cây chuối rừng Bập răng vào nhai cho thỏa thích… Hai mươi tuổi bạn tôi chống gậy Chỉ còn hơn một triệu hồng cầu Bước lên thềm tay dò, tay vịn

Môi máy nhiều mà chẳng nói thành câu …

( Tà Sanh )

Đấy là cơn khát giữa mặt trận Tà Sanh mùa khô. Sức gợi của thơ ở đây chính là hiện thực, là từ hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh. Còn đây là một bức sơn dầu khác, có điểm nhấn xác thực mang tính tự sự cao, mang tính tố cáo mạnh mẽ từ một khung cảnh sau cuộc thảm sát, được tạo ra bởi những câu thơ mang âm trắc, vần trắc thất thường, trong hơi khí của thơ đã chen lấn, tuy chưa thật đậm dấu ấn tâm trạng của người viết: Bước đi mỗi bước, đau mỗi bước/ Mười tám xác trâu chắn ngang đường/ Mười tám cặp sừng nằm chỏng ngược/ Da thịt tơi bời, cơn gió nấc…/ Từng đôi mắt nhìn, lửa trong mắt/ Đất chẳng yên lành đất tro than/ Nhà chẳng còn nhà, người vắng ngắt/ Ôi, Tả Hồ Xìn, Tả Hồ Xìn/ Trăm năm, ngàn năm ghi tội ác ( Xe dừng Tả Hồ Xìn ).

Với đoạn thơ tả thực rất giỏi này, nếu tạm cất đi câu đầu: Bước đi mỗi bước, đau mỗi bước, và câu cuối: Ôi, Tả Hồ Xìn, Tả Hồ Xìn/ Trăm năm, ngàn năm ghi tội ác, thì hiện lên nguyên vẹn một bức tranh khách quan của hiện thực, nghĩa là tác giả đã làm xong cái việc thông báo. Phần cảm nhận như thế nào đó tùy thuộc vào từng người đọc. Điều này cho thấy vì sao Vương Trọng thích Đỗ Phủ hơn Lý Bạch*. Đỗ Phủ gần với tranh sơn dầu, Lý Bạch gần với tranh lụa. Thơ Vương Trọng mảng viết về chiến tranh mang rõ rệt cá tính sáng tạo của anh.

Bao giờ Vương Trọng cũng tìm được một ý nghĩa nông sâu nào đó trước một hiện tượng của đời sống nào đó. Với hai chị em nhà nọ, anh như một người đứng ra an ủi: Nín đi em, bố mẹ bận ra tòa/ Chị lên bảy dỗ em trai ba tuổi/ Thằng bé khóc bụng chưa quen chịu đói ( Hai chị em ). Và từ cảm thông, an ủi, anh nhắc nhủ mọi người, lời nhắc nhủ mang sắc thái một lời cảnh báo, đặc biệt là với những bố mẹ khác đang chuẩn bị ra tòa: Nín đi em!- em khản giọng khóc gào/ Chị mếu máo, đầm đìa nước mắt/ Những bố mẹ bên bờ chia cắt/ Phút giây thôi, hãy nghe tiếng con mình ( Hai chị em ).

Một ví dụ khác. Những đứa trẻ ngoài giá thú, một hiện tượng bình thường và tương đối hay gặp của những đất nước chiến tranh dài lâu như nước ta, một hiện tượng thường bị người đời ghẻ lạnh: Thôi nhắc chi những năm dài trống trải/ Bao vầng trăng vô nghĩa rụng qua đầu/ Tóc hoàng hôn thưa dần theo lược chải/ Pháo cưới người như đốt để trêu nhau ( Với đứa con ngoài giá thú ). Gặp những hoàn cảnh như vậy, anh thấy cuộc sống đã thừa những vô cảm đối với những con người bất hạnh và thiếu những an ủi cần thiết. Vương Trọng nhìn điều đó theo một cách khác, cách của con người trắc ẩn: Ngoài giá thú sao ngoài lòng thương cảm/ Để người đời ghét bỏ mẹ con tôi? ( Với đứa con ngoài giá thú ). Bài thơ mượn lời người mẹ nói với đứa con ngoài giá thú. Với người mẹ không có đứa con nào không phải là con của mẹ. Vương Trọng như hóa thân trong vai người mẹ để nói với con, nhưng cũng là để gửi một thông điệp với người đời về một trường hợp gây không ít những đau thương trong đời sống xã hội.

Chúng ta sẽ nhận ra quan niệm đầy tình người này của người làm thơ qua các trường hợp Mỵ Châu, Thúy Vân, Hòn Vọng Phu…Lấy một ví dụ, Hòn Trống Mái. Đây như một phát hiện của Vương Trọng: nỗi cô đơn cũng đã hóa đá, nhưng hóa thành đôi chim trống mái để mãi mãi bên nhau. Vương Trọng chạnh lòng: Trống Mái-loài chim được thế/ Người thì Tô Thị, Vọng Phu…(Bên hòn Trống Mái). (Tôi nhớ có lần nhà thơ Văn Thảo Nguyên ở Lạng Sơn về, có một nhận xét thú vị: Phía sau hòn đá hai mẹ con nàng Vọng Phu hóa đá kia, cũng có một hòn đá hệt như một con hổ đang nằm phủ phục. Văn Thảo Nguyên nghĩ rằng chắc con hổ mỏi rình mẹ con nàng Vọng Phu lâu quá, buồn quá nên cũng đã hóa đá nốt! ) Trở lại những bài thơ của Vương Trọng: Một lần, với em bé còn nhỏ tuổi đã phải một mình mưu sinh hàng ngày đi kiếm củi. Hình ảnh ấy thường đến với anh trong đêm: Gánh củi ấy trở thành đá núi/ Đêm đêm đè nặng ngực tôi (Thương cháu bé lên năm gánh củi); Với Chí Phèo, anh mượn giọng Chí để nói với Bá Kiến: Mày chết mày mất giống/ Anh em tao còn nhiều/ Ở mỗi làng mỗi xóm/ Có một ông Chí Phèo (Chí Phèo); Với Trương Chi, anh nhắn nhủ: Sao đem giọng hát một đời/ Đổi về tình hận ngậm ngùi ngàn năm (Nói với Trương Chi); Với người bạn đồng nghiệp hàng xóm, nhà văn Thái Vượng mệnh yểu, anh thảng thốt: Người ấy đâu rồi/ Bàn văn dang dở truyện ngắn/ Bàn cờ ngổn ngang ngựa xe (Hoa quỳnh, nhớ Thái Vượng)…vv

Một ví dụ nữa. Người con dâu về nhà anh. Lẽ thường tình của cuộc sống. Nhưng với Vương Trọng, anh ghi lại khoảnh khắc đó rất hóm hỉnh: Thế là cháu đã thành con/ Bác thành bố, mẹ chẳng còn lạ xa/ Ăn chung bữa, ở cùng nhà/ Nói năng thêm giọng, vào ra thêm người (Nói với con dâu). Một lời dặn tinh tế để không làm phật lòng con dâu, lại vừa độ như để nhắn nhủ thành viên mới: Nhà mình quý nhất con ơi:/ Nâng niu gìn giữ tình người trước sau/ Đã rằng hai tiếng thương nhau/ Thì thương cho đến bạc đầu còn thương (Nói với con dâu). Nói với con dâu thôi nhưng cũng đủ để nhận ra quan niệm sống của Vương Trọng: nâng niu gìn giữ tình người trước sau …

Chúng ta vẫn thường thừa nhận với nhau rằng toán và thơ thật khác xa nhau, và nếu có một điểm chung nào đó, điểm chung ấy chắc phải rất xa. Thơ tư duy bằng hình tượng, bằng tưởng tượng, bằng ngôn từ, bằng nhịp điệu, thậm chí bằng cả những khoảng lặng trắng tinh giữa hai dòng chữ, giữa hai khổ thơ…Toán tư duy bằng con số, bằng khái niệm, bằng định đề, bằng suy tưởng và suy luận trừu tượng. Toán cần chính xác. Thơ đôi khi cần bay, cần nhòe, cần dừng, cần một chút mơ hồ…Hai lĩnh vực này có chung một cảm thức về cái đẹp của sự thăng hoa.

Đây là thơ:

Đêm xuân không dễ ngồi nhà

Anh đi thơ thẩn như là để đi

Đến đâu và sẽ làm gì Xin đừng rành mạch những khi xuân về

( Đêm xuân )

Còn đây là khi toán đã lấn sân:

Nối dây gầu thả vào lòng giếng

Nối dây diều thả vào lòng trời Đừng đơn giản đánh đồng hai khái niệm… Nếu không có sợi dây nối liền với đất Chẳng bao giờ người biết bay lên

(Tản mạn về những cánh diều giấy)

Vương Trọng rất chú ý dùng những đại từ chỉ định biểu thị sự nhấn mạnh về tính chất hiện diện, cụ thể, trước mắt của điều định nói, để làm chính xác thêm điều định nói. Đó là khi toán đang lẫn khuất giữa những câu thơ. Lấy một ví dụ:

Áo chàm lẫn vào bóng cây lặng lẽ

Khuất mờ rồi nét mày nhỏ bé

Đấy là khi câu hát đằm sâu

Đấy là khi câu hát nhớ thương nhau

( Thị xã màu xanh )

Một ví dụ khác:

Bộ mặt nào cũng có nhiều răng nhọn

Không phải để cười mà để nhai, để ăn

Đấy là hai câu lấy từ bài Mắt con nhìn, viết tại sân bay Gia Lâm ngày 19/3/1973, ngày tên giặc lái Mỹ cuối cùng rút khỏi miền bắc. Đoạn thơ có thừa những yếu tố chính xác: tính từ nhiều, nhọn, tổ hợp từ không phải, kết từ mà để, như biểu thị sự khẳng định – một kiểu lập luận của toán!

Một ví dụ khác:

Nhìn dọc: dựng mũi tên

Nhìn ngang: xòe lưỡi búa Bước lên hóa con thuyền Sóng rượu cần nghiêng ngửa

( Nhà Rông )

Phải thừa nhận đây là một sự quan sát và liên tưởng ví von khá thông minh. Nhưng nếu ba câu đầu dùng để miêu tả cái nhà Rông Tây Nguyên, người đọc vẫn chưa thấy tác giả ở đâu cả. Chỉ có câu cuối: sóng rượu cần nghiêng ngửa là hướng nội, là tâm trạng, cũng là tình cảm của tác giả. Và tôi cho rằng đấy là câu thơ nhất trong đoạn thơ trên.

Còn đây là mấy câu lục bát, hầu như mỗi câu cõng trên lưng một con số của Nguyễn Bính:

Đồn rằng đám cưới cô to

Nhà giai đưa chín con đò đón dâu Nhà gái ăn chín buồng cau Tiền cheo tiền cưới chừng đâu chín nghìn Lang thang tôi dạm bán thuyền Có người trả chín quan tiền lại thôi

Nhiều con số là vậy nhưng sao đọc lên vẫn không thấy con số át mất phần thơ của lục bát Nguyễn Bính!

Cũng có thể tôi đã có cảm giác tiền định Vương Trọng là nhà thơ xuất thân từ người học toán chăng?.

Vì yêu Nguyễn Du và Truyện Kiều, Vương Trọng đã có những đóng góp đáng kể để giúp bạn đọc hiểu hơn về Truyện Kiều. Có lần, anh là người tổ chức các cuộc thi đố Kiều khá lý thú của Đài Tiếng nói Việt Nam, thu hút khá đông đảo thính giả tham gia. Vì say mê Nguyễn Du, Vương Trọng tìm cách dịch lại ( phần thơ ) toàn bộ Thơ chữ Hán của Nguyễn Du hầu hết bằng thể lục bát căn cứ vào dịch nghĩa của Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính từ Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm đến Bắc hành tạp lục. Không bàn về quan niệm dịch, hiệu quả dịch như xưa nay các dịch giả vẫn thường bàn, chỉ nội một việc bỏ công ngồi chuyển thể Thơ chữ Hán của Nguyễn Du ( rồi sau đó dịch lại cả Chinh phụ ngâm, tác phẩm đã quá hay, quá quen thuộc của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm ), cho thấy tình yêu sâu sắc và đam mê hiếm thấy của Vương Trọng đối với di sản của ông cha.

6. Nhưng cũng như nhiều nhà thơ khác, Vương Trọng không ảo tưởng với những câu thơ tưởng như gan ruột của mình. Vẫn thường vất vưởng, lang thang trong cõi trần, vẫn thường run rẩy với những câu thơ như đam mê suốt cả cuộc đời, song với Vương Trọng, những trang viết suốt một đời vất vưởng kia, quá lắm cũng chỉ là thi ca ơi, người phù phiếm vô cùng (Thúy Vân). Trên hết, Vương Trọng vẫn là một ông “đồ gàn” đáng yêu xứ Nghệ, cho dù đi đâu, ở đâu cũng thiết tha với quê hương, giữ từ giọng nói, nết ăn, nết ở nhà quê của mình. Và núi Quỳ, ngọn núi mà ta đã gặp ở đầu bài viết này vẫn là nơi luôn luôn ẩn hiện trong tâm hồn anh. Như loài cá hồi với bản năng loài có một không hai của chúng ( Bài Cá hồi ), Vương Trọng từ núi Quỳ sinh ra, còn quá sớm, nhưng anh đã dặn: Hãy đưa tôi về nơi sinh nở, bởi vì anh quan niệm Hạnh phúc lắm nếu được nằm xuống đấy.

Còn bạn, một mai nếu muốn, bạn sẽ tìm được nhà thơ Vương Trọng!.

Tháng 4 năm 2015

(Nguồn: Tạp chí NV&TP)

Bài Thơ Nhớ Mẹ Của Vương Trọng

Bài thơ Nhớ Mẹ của Vương Trọng

Nhà thơ Vương Trọng với bài thơ nhớ mẹNhà thơ Vương Trọng – người con của Đô Lương xứ Nghệ. Ông có nhiều bài thơ cảm động viết về những người phụ nữ ruột thịt và gần gụi trong gia đình. Trong những bài thơ đó có bài “Khóc giữa chiêm bao” nhà thơ viết về người mẹ kính yêu của mình đã khuất núi từ nhiều năm nay. Ông kể với tôi về xuất xứ của bài thơ này: Đó là một đêm ở Hà Nội nhà thơ nằm mơ thấy mẹ mình. Đây là giấc mơ thường có với ông khi nghĩ về mẹ. Lạ lùng là trong giấc mơ nào cũng vậy bao giờ ông cũng mơ về những tháng năm khốn khó của gia đình. Những năm mà cuộc sống của anh em ông đè trên đôi vai gánh gồng của mẹ. Ông thường khóc trong giấc mơ gặp mẹ. Giấc mơ là kí ức hiện về sau nỗi nhớ. Nó là vầng huyền ảo kỳ diệu của cảm xúc. Đấy là những ký ức cốt nhục khó có thể quên nhưng lại không thể hiện hữu. Mơ gặp mẹ khi tỉnh dậy biết là mẹ đã đi xa lâu rồi mà tâm hồn con vẫn bổi hổi bao nỗi nhớ thương. Lúc ấy người làm thơ đã khóc. Đúng ra là đứa con trai đã khóc khi gặp lại mẹ mình. Những giọt nước mắt hiếu thảo trong một đêm Hà Nội vào năm 1988 cách đây hơn hai mươi năm ấy đã thao thức với Vương Trọng để cùng ông hiện lên những dòng chữ cảm động này:KHÓC GIỮA CHIÊM BAO Vương Trọng Đã có lần con khóc giữa chiêm bao Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó Đồng sau lụt đường đê sụt lở, Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn. Anh em con chịu đói suốt ngày tròn, Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa. Có gì nấu đâu mà nhóm lửa Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về. Chiêm bao tan nước mắt dầm dề, Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng. Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng, Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương. Con lang thang vất vưởng giữa đời thường, Đâu cũng sống không đâu thành quê được. Còn quê mẹ cuối chân trời tít tắp, Con ít về từ ngày mẹ ra đi. Đêm tha hương con tìm lại những gì Với đời thực chẳng bao giờ gặp nữa. Mong hình mẹ lại hiện về giấc ngủ Dù thêm lần con khóc giữa chiêm bao.

Đi Tìm Lá Diêu Bông

Từ thuở ấy Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể Gió quê vi vút gọi Diêu bông hời… … ới Diêu bông…!

Trong suốt cuộc đời mình cho đến hôm nay Hoàng Cầm có tất cả 13 Nàng Thơ xương thịt. Ông bảo “Đó là những hồn người đã gọi ra nhịp điệu, âm thanh, đường nét sắc màu” những bài thơ tình của ông. Theo nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha, thì ông đã cho mọi người biết tên của 9 nàng, còn 4 nàng là tên viết tắt. Trong 9 nàng có tên, có chị Vinh “diêu bông” và chị Nghĩa “tam cúc”đã làm nên thời ký “Thơ Chị Em” của Hoàng Cầm. Nhà thơ Hoàng Cầm kể trên sóng phát thanh :” Năm 12 tuổi, tôi say mê một người con gái láng giềng hơn tôi những 8 tuổi….”. Một chiều thứ bảy, cậu bé Bùi Tằng Việt thấy một cô gái hàng xóm đang mua thứ gì đó ở quán của mẹ. Khi cô ấy ngẫng đầu lên, nhìn ra đường thì cậu bé lên tám choáng người, bị ngay “tiếng sét ái tình” Người con gái đẹp đến mê hồn. Thế là cậu bé làm một trang thơ lục bát tặng người tình trong mộng . “Em gửi chị Vinh của em”. Chị Vinh cũng váy lụa Đình Bảng, áo cánh lụa mỡ gà, khăn vuông mỏ quạ , đi Hội Lim chị là bà chúa quan họ, giọng ngọt như mật. Từ đó CHỊ đi đâu EM theo đó. Lẽo đẽo bụi hồng. Cho đến một ngày tròn 12 tuổi, cậu bé theo sau chân chị ra đồng. – Chị Vinh ơi chị tìm cái gì thế”. Chị Vinh quay phắt lại, giọng bỡn cợt : – Ừ , Chị đi tìm tìm cái lá… ấy đấy, đứa nào tìm được cái lá… ấy ta gọi là chồng ! Hai ngày em tìm thấy Lá Chị chau mày Đâu phải lá Diêu bôngMùa đông sau em tìm thấy Lá Chị lắc đầu Trông nắng vãn bên sông Ngày cưới Chị Em tìm thấy Lá Chị cười xe chỉ ấm trôn kim Chị ba con Em tìm thấy Lá Xoè tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ khi “Chị thẫn thơ đi tìm / Đồng chiều / Cuống rạ” cho đến ” Mùa đông sau…, Ngày cưới chị…rồi khi “Chị ba con” là một quãng thời gian rất dài, rất dài. Vậy mà EM vẫn kiên nhẫn miệt mài đi tìm Lá để chứng minh cho tình yêu CHỊ của mình. Và Em đã bốn dạo “Tìm thấy Lá”, nhưng đều bị CHỊ từ chối không “gọi là chồng”. Bi kịch của tình yêu, bi kịch cuộc đời là vậy . Yêu nồng nàn , nhưng không tới được hạnh phúc. Cho nênTừ thuở ấy Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể Gió quê vi vút gọi Diêu bông hời… Ới Diêu Bông… !Đoạn kết bài thơ như một tiếng kêu thảng thốt, nấc ngẹn, đẩy nỗi buồn đau đến vô cùng . Bài thơ là một giấc mộng, là câu chuyện cổ tích về mối tình đầu của Hoàng Cầm. Với ngôn ngữ vùng Kinh Bắc dân giã mà chắt lọc, bài thơ như pho tượng đài tình yêu bằng kim cương lấp lánh. Ôi, thơ là ngôn ngôn kỳ diệu của trí tưởng tưởng. Nhà thơ sáng tạo ra hình tượng thơ, còn người đọc thơ, cảm thơ thì mỗi người cảm nhận một cách khách nhau. Đó là “ý tại ngôn ngoại” của thơ, do chiều sâu của bài thơ quy đinh. Đó cũng là cội nguồn gây ra bao rắc rối cho tác giả Lá Diêu Bông…

Tôi quen biết nhà thơ Hoàng Cầm nhờ anh Phùng Quán. Năm 1985, ra Hà Nội, tôi ngụ tại Chòi Ngắm Sóng của Phùng Quán. Ngày nào anh cũng đèo tôi bằng cái xe đạp cuốc Liên Xô cao lêu nghêu đi thăm các nhà thăm Trần Dần. Hoàng Cầm, Phùng chúng tôi đó, tôi gặp anh nhiều lần ở nhà anh Phùng Quán, hay trong các kỳ Đại hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1993, Hoàng Cầm cho xuất bản tập thơ Lá Diêu bông, một phần trong tập “Về Kinh Bắc ” viết trong 2 năm 1959, 1960. Sau nhiều trắc trở, mãi đến tháng 7- 1994, tập thơ “Về Kinh Bắc” mới được ấn hành. Ông tặng tôi một tập với lời đề tặng rất “bạn bè” “Tặng bạn Ngô Minh”, mặc dù về tuổi ông là bậc cha chú, về thơ ông là bậc thấy.

Đọc Lá Diêu Bông, ngoài câu chuyện tình đơn phương như huyền thoại ấy, tôi còn miên man nghĩ đến một “thông điệp” khác rất “bỏng cháy” phát ra trong từng câu chữ thơ. Tại sao EM tìm thấy LÁ mà CHỊ vẫn “chau mày”, ” lắc đầu”,” xoè tay phủ mặt không nhìn” ? CHỊ là ai ? Tạo sao CHỊ lại nhất quyết cự tuyệt tình yêu của EM đến vậy, mà không một lời giải thích , không một chút thương tâm ? Sao Chị lại Vô Tình, Vô Tâm đến vậy ? Đó có phải là một phần số phận đắng cay, ẩn ức của Hoàng Cầm được thể hiện dưới dạng thức thơ tình ? Sinh thời, anh Phùng Quán thường kể với tôi, sau vụ Nhân Văn – Giai phẩm, Hoàng Cầm là người “sám hối” mạnh mẽ nhất để mong sớm được làm thơ, viết văn trở lại. Ông làm nhiều thơ gửi lên cấp trên để mong được “cứu xét”. Rồi ông chờ đợi. Nhưng không một hồi âm. Nhớ lại thời kỳ này, nhà thơ Hoàng Cầm kể với phóng viên báo An Ninh Thủ đô ngày 28/2/2007 :” Lúc đó chúng tôi chỉ biết lấy sáng tác để khắc phục, làm đêm làm ngày, tập trung sáng tác để quên đi cái khổ. Chỉ có cách khắc phục bằng lý tưởng cách mạng của mình thôi chứ biết làm sao…”. Ông đã làm hết sức mình để thể hiện lòng trung trinh như nhất của mình, nhưng vẫn bị nghi ngờ, chối bỏ! Thế là ông mượn thơ để giải toả nỗi thất vọng của mình. Có lẽ không phải riêng tôi mà có lẽ ai cũng nghĩ như thế. Vì bài thơ ” mỗi lời là một vận vào khó nghe” với số phận ông Hoàng.

Nhà hto Hoàng Cầm không chỉ bị nạn trong vụ “Nhân Văn- Giai phẩm”. Bài thơ ” Lá Diêu bông” ra đời cũng đã làm cho Hoàng Cầm phải tù tội điêu đứng. Nhà thơ Hoàng Cầm kể với vợ chồng anh Phùng Quán và tôi trên “Chòi ngắm Sóng” bên Hồ Tây một câu chuyện buồn. Mùa thu năm 1982, bỗng nhiên xe Công an đến nhà riêng 43-Lý Quốc Sư Hà Nội đọc lệnh bắt ông Bùi Tằng Việt ( tên thật của nhà thơ Hoàng Cầm) vô tù về tội chứa chấp người buôn bán sử dụng ma tuý. Hoàng Cầm thì xưa nay đã thành nếp, ngày nào cũng hút vài “vê” nàng Tiên Nâu mới tỉnh trí để sáng tác. Bây giờ đã 88 tuổi rồi, ông vẫn chơi “cơm đen”. Đã hút thì phải có người cung cấp thuốc, tất nhiên… Thực ra, thì trước đó Công an đã bắt nhà thơ Hoàng Hưng vì nhà thơ này định chuyển bản thảo tập thơ “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm, do Hoàng Cầm đưa ra hải ngoại để in ấn. Do vậy, Hoàng Cầm bị bắt. Trong tập thơ đó có bài thơ ” Lá diêu bông” . Ở trong nhà giam, “cán bộ” đưa cho nhà thơ bản thảo tập thơ Về Kinh Bắc, bảo Hoàng Cầm mỗi ngày phải viết kiểm điểm về từng bài, từng chữ trong đó. Khi nào kiểm điểm “thành khẩn” mới được tha. Về Kinh Bắc là tập thơ trữ tình hay nhất, tâm huyết nhất của Hoàng Cầm. Ông đọc đi đọc lại chẳng thấy có gì “sai đường lối” cả. Nhưng “cán bộ” trai giam vẫn không chịu, vẫn bắt viết kiểm điểm. Một hôm ông nghĩ “Có lẽ do bài Lá Diêu Bông chăng?”. Vì đây là bài thơ duy nhất có độ “nhoè” cao, dễ gây ra những ý nghĩa mơ hồ . Thế là Hoàng Cầm viết kiểm điểm ngay bài thơ “Lá Diêu Bông”. Quả nhiên, khi nộp kiểm điểm, ông thiếu tá công an vui vẻ cảm ơn nhà thơ. Đúng là bài thơ đã tạo ta hai hình ảnh đối nghịch :CHỊ bà EM. Đọc trong văn cảnh, người ta nghĩ ngay đến CHỊ đây là người có quyền muốn làm gì thì làm, tức là Nhà nước. Còn EM là nhà thơ, là văn nghệ sĩ, yêu CHỊ mà CHỊ không yêu cũng phải cam chịu. Muốn theo chị mà chị không cho, chị lắc đầu. Thế là vì “Lá Diêu Bông”, Hoàng Cầm đã phải ngồi tù 18 tháng.Tôi thấy công an đọc thơ như thế cũng “khen cho con mắt tinh đời”. Nhưng, thực tình “Lá Diêu Bông” không phải là bài thơ CHỐNG ĐỐI, không có ý gì chống đối ẩn trong đó cả, mà chỉ là bài thơ BUỒN, TRÁCH . Vì “buồn, vì “trách” mà phải ngồi tù năm rưỡi ròng quả là quá oan nghiệt ! Giá mà những người làm công việc “thực thi pháp luật ” được đào tạo học hành tử tế, hiểu cho hết, cho đúng ý tưởng bài thơ, thì chắc chắn nhà thơ Hoàng Cầm không phải bị phiền luỵ đến thế !

Sau đợt bị nhốt tù ấy về, nhà thơ Hoàng Cầm bị suy sụp vì khủng hoảng tinh thần. Có lần Phùng Quán đến nhà thăm, bà Hoàng Yến ( vợ Hoàng Cầm) nói với anh Quán :” Anh chú hỏng rồi ! Ai đời ăn bánh giò xong, bỏ lá bánh vào tủ khoá lại…” Từ đó, Hoàng Cầm không sáng tác nữa . Hàng ngày ông bán quán nước trà trước nhà. Bọn trẻ gọi ” Ông Cầm, cho đĩa lạc”. Thế là ông lọm khọm bốc lạc ra đĩa, bưng đến bàn cho bọn khách choai choai. Phùng Quán xót ruột hỏi :” Cái quán nước này cho anh ngày bao nhiêu mà anh phải khổ sở thế ?” .Hoàng Cầm ngậm ngùi :” Em cứ coi như thi sĩ Hoàng Cầm đã chết rồi. Bây giờ chỉ còn mỗi ông chủ quán nước Hoàng Cầm thôi !” Vì thế, Phùng Quán, đã viết bài thơ “Viết tặng nhà thơ Hoàng Cầm trong giây phút anh ngã lòng suy sụp” : Tôi tin núi tàn / Tôi tin sông lấp / Nhưng tôi không thể nào tin / Một nhà thơ như anh / Lại ngã lòng suy sụp!… Tôi có một niềm tin / Chắc như định đóng cột / Mai kia anh nhắm mắt / Đi sau linh cửu anh / Ngoàì bạn hữu gia đinh / Có cả con Sông Đuống!…Sau này. Nhà thơ Hoàng Cầm đã có lần tâm sự với chị Bội Trâm ( vợ nhà thơ Phùng Quán) :” Thơ chú Quán đã vực tôi dậy …”. Cũng có một nhà văn ở Thành phố Hồ Chí Minh đã viết bài :” Một bài thơ đã cứu một nhà thơ…”

Có người định nghĩa Lá Diêu bông là Lá yêu , những ai đang yêu mới tìm thấy lá! Tôi cho rằng Lá Diêu Bông là một trong những bài thơ tình hay nhất Việt Nam. Nhưng tôi vẫn đi tìm lá Diêu Bông theo cảm nhận của riêng mình, đi tìm cái lá Diêu Bông của số phận thi sĩ .Diêu Bông hời Ới Diêu Bông…

Phạm Duy Tuấn @ 09:49 12/12/2011 Số lượt xem: 552

Công Chúa Đi Tìm Hoàng Tử

Ngày xưa, có hai anh em rất yêu thương nhau, đó là hoàng tử nhỏ và công chúa nhỏ. Hoàng tử nhỏ đi đến đâu cũng dẫn em theo. Công chúa nhỏ có thứ gì ngon cũng phần cho anh. Nhưng có một hôm, hoàng tử vào rừng đi săn và không quay trở về nữa. Công chúa nhỏ buồn bã khóc òa lên. Nàng cứ thế khóc hai ngày liền, sau đó, nàng quyết định đi tìm anh trai mình.

Khu rừng vô cùng rộng lớn, vừa tối vừa lạnh, công chúa đi mãi mà không biết nên đi đâu. Cuối cùng, nàng không thể đi tiếp được nữa nên ngồi xuống nghỉ cạnh một tảng đá to.

Bỗng nhiên, có một con sư tử to lớn đi đến và nói: “Xin hãy ngồi lên lưng tôi!”

Công chúa sợ đến nỗi không thốt ra được lời nào. Lúc đó, sư tử ngoan ngoãn ngồi xuống. Công chúa thấy sư tử không có ý định ăn thịt mình, hơn nữa, nàng cũng không thể đi được nữa nên đành ngồi lên lưng nó.

Sư tử nói: “Ta sẽ cho nàng sống ở cung điện này, nàng hãy làm việc cho ta, ta bảo gì nàng cũng phải nghe, như vậy nàng sẽ gặp anh trai mình.”

Và như vậy, công chúa vui vẻ sống ở cung điện.

Ếch xanh chăm chỉ

Lúc đầu, công chúa ở đó rất vui, vì muốn nhìn thấy anh trai nên hàng ngày nàng đều dậy sớm nấu cơm, quét dọn sạch sẽ. Sư tử bảo gì nàng cũng làm theo. Nhưng nhiều ngày sau đó, sư tử vẫn không cho nàng gặp anh trai, công chúa vừa buồn vừa tức giận.

Một hôm, công chúa đang dạo chơi trong vườn hoa thì phát hiện ra một đầm nước nhỏ, trên lá súng có một chú ếch xanh. Điều thú vị là trên đầu ếch còn đội một chiếc lá tường vi. Ếch xanh nhìn thấy công chúa liền chu môi lên hỏi: “Sao nàng lại buồn thế?”.

Công chúa đau lòng nói: “Ôi, ta làm sao có thể vui được chứ?” Thế rồi, công chúa kể chuyện anh trai nàng đi săn và bị mất tích cho ếch xanh nghe.

Ếch xanh nói: “Nàng đừng buồn, sau này có chuyện gì cứ đến tìm tôi! Tôi nhất định sẽ giúp nàng.”

Ếch xanh nói: “Mỗi ngày nàng hái một lá tường vị tươi tặng ta làm mũ là được.”

Khi công chúa trở về cung điện, tâm trạng nàng đã vui vẻ trở lại. Ếch xanh nhỏ trong hồ nước là bạn tốt của nàng, còn nói muốn giúp đỡ nàng. Nghĩ đến đó, công chúa lại vui vẻ đi nấu cơm.

Công chúa nghe xong thấy vô cùng lo lắng. Nàng chưa nghe nói tới món ăn này bao giờ. Do đó, nàng vội vàng đi tìm ếch. xanh giúp đỡ.

Ếch xanh nói: “Nàng đừng lo, món tương muỗi đó không làm khó tôi đâu.” Nói xong, nó há miệng to, chỉ một lúc đã bắt được rất nhiều muỗi.

Sau đó, nó tìm hai que củi và đốt lửa, ép chặt lũ muỗi rồi đặt lên bếp đun, chẳng bao lâu đã làm xong món tương muỗi.

Công chúa vui mừng reo lên: “Ôi, tay nghề nấu nướng của anh bạn thật tuyệt vời!”

Ếch xanh nói: “Chỉ cần nàng nhận lời giúp tôi một việc, tôi sẽ đưa nàng món tương muỗi.”

“Ồ, chuyện gì vậy?” Công chúa cảm thấy rất kì lạ.

“Đợi sư tử ngủ say, nàng hãy lấy thanh gươm gỗ ở đầu giường và chặt đầu nó.”

“Không!” Công chúa kêu to, “Sư tử đối xử với ta rất tốt, ta không thể!”

“Nếu nàng không giết chết sư tử, nàng mãi mãi không gặp được anh trai mình đâu.” Ếch xanh nói.

Công chúa không biết nên làm thế nào, nàng rất nhớ anh trai, do đó, nàng cầm lọ tương muỗi, lặng lẽ bước về cung điện.

Cuộc tương ngộ hạnh phúc

Buổi tối, sư tử trở về, nhìn thấy trên bàn có lọ tương muỗi, nó vui mừng nói: “Ồ, xem ra không tồi chút nào!” Nói xong, nó vừa ngửi vừa ăn. Sau khi ăn uống no nê, sư tử muốn đi ngủ. Nó nói với công chúa: “Trải ga giường cho ta, ta buồn ngủ rồi.”

Công chúa vội vàng trải ga giường. Vừa trải xong, sư tử lười biếng nằm lăn ra và nói: “Tai của ta ngứa quá. Nàng gãi phía sau tai cho ta, đợi ta ngủ rồi hãy đi.”

Công chúa nghe thấy vậy ngồi xuống giường, gãi tại cho sư tử. Một lát sau, sư tử đã ngáy khò khò. Công chúa nhớ đến lời của ếch xanh, ngó xuống giường, đúng là ở đó có một thanh kiếm gỗ, nghĩ đến việc giết chết sư tử sẽ được gặp anh trai, công chúa thấy có dũng khí hơn. Nàng nhẹ nhàng cầm thanh kiếm gỗ, dùng hết sức chém xuống. Khi nàng mở mắt ra đã không thấy bóng dáng sư tử đâu, người đang nằm trên giường chính là anh trai nàng.

“Anh, anh ơi!” Công chúa vui sướng reo lên.

Hoàng tử tỉnh dậy, nhìn thấy công chúa cũng ngạc nhiên kêu lên. Hai anh em gặp nhau vui mừng khôn xiết. Công chúa hỏi: “Anh ơi, sao anh lại biến thành sư tử thế?”

“Ta vào rừng săn bắn, gặp một mụ phù thủy xấu xa, bà ta đã hóa phép biến ta thành sư tử, chỉ khi nào có một cô gái yêu quý ta thật lòng, ta mới được cứu. Em gái, em đã cứu anh đấy.” Hoàng tử xúc động nói.

Công chúa nghĩ ngợi một lát rồi nói: “Thực ra, người cứu anh không phải là em, đó là một con ếch xanh trong hồ nước.” Nói xong, nàng kể việc ếch xanh giúp đỡ mình cho anh trai nghe.

Lúc này, ếch xanh như không nghe thấy lời họ nói, đốt hai que củi và lập tức nhảy vào đống lửa. Công chúa và hoàng tử vội vàng nhảy xuống nước cứu nó. Không ngờ, ngọn lửa bỗng nhiên bị tắt, trong đám lửa hiện lên một cô gái rất xinh đẹp. Hóa ra, cô gái đó cũng bị trúng bùa phép, chỉ khi nhận được sự cảm ơn chân thành của người khác, lời nguyền mới được hóa giải.

Cô gái cảm kích nói: “Cảm ơn chàng hoàng tử, thiếp rất vui lòng.” Thế là công chúa, hoàng tử và cô gái xinh đẹp vui vẻ trở về cung.

Bạn đang xem bài viết Vương Trọng, Một Mai Nếu Bạn Muốn Đi Tìm trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!